Thực trạng quản lý rừng và ảnh hưởng của nó đến sinh kế của...

Trường hợp ở xã Phú Vinh, huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế

ĐH Nông lâm Huế: Hai nghiên cứu sinh nước ngoài bảo vệ luận án...

Ngày 28.10, Trường Đại học Nông Lâm Huế đã tổ chức Lễ bảo vệ Luận án Tiến sỹ cho hai nghiên cứu sinh Chiv Phiny và Chhay Ty. Đây là 2 nghiên cứu sinh (NCS) đến từ Campuchia.

Thông báo về việc xuất bản các kết quả nghiên cứu khoa học trên...

Trường Đại học Nông Lâm Huế thông báo về việc xuất bản các kết quả nghiên cứu khoa học trên tạp chí NN&PTNT nhằm kỷ niệm 45 năm ngày thành lập Trường ĐHNL Huế.

Nghiên cứu ảnh hưởng của thức ăn, mật độ và độ mặn lên sinh...

Nghiên cứu ảnh hưởng của thức ăn, mật độ và độ mặn lên sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá nâu (Scatophagus argus Linnaeus, 1766) nuôi tại Thừa Thiên Huế.

Chế phẩm sinh học Bokashi Trầu

Boakshi trầu là chế phẩm được sản xuất dựa trên công nghệ chiết suất từ dịch chiết lá trầu và lên men với các vi sinh vật có lợi, chế phẩm tạo nên có thành phần chủ yếu: Eugenol, Chavicol, Estradiol, Cadinen và các hợp chất phenol khác từ chất chiết lá trầu, và các vi sinh vật chủ yếu nhóm Lactobacillus. Sản phẩm vừa có khả năng kháng khuẩn và có khả năng tăng cường vi sinh vật có lợi trong đường tiêu hóa của động vật thủy sản. Chế phẩm không gây ô nhiễm môi trường, không gây tồn dư trong cơ thể động vật thủy sản. Là chất có nguồn gốc từ nguyên liệu thiên nhiên, thân thiện với môi trường, nâng cao sức đề kháng bệnh cho động vật thủy sản. Ngoài ra, khi tôm được bổ sung chế phẩm có màu sáng hơn, vỏ kitin cứng hơn so với tôm không được bổ sung.

Đề tài, dự án liên kết 2011-2016

ĐỀ TÀI, DỰ ÁN LIÊN KẾT 2011-2016

Kết quả 10 năm nghiên cứu tập tính ứng dụng trong chăn nuôi

This is a synthezed paper for summarizing all behavioural research outcomes had done by research team in Hue University of Agriculture and Forestry for 10 years. The main research activities are feed neophobia, grazing and ruminating behaviour, and especially learned behaviour. In application, these results are modified as a methors for reducing times of food adaptation.

Nâng cao chất lượng đào tạo nghiên cứu khoa học và chuyển giao công...

Nâng cao năng lực nghiên cứu của các trường viện Nông-Lâm-Ngư phục vụ hội nhập, theo hướng theo nghiên cứu và chuyển giao các công nghệ tiên tiến, phù hợp với trình độ tiếp nhận của nông dân và các công ty là một thách đố lớn, nhưng đang được bộ Nông nghiệp và PTNT mong đợi. Đây cũng là sứ mạng của ngành trong thời kỳ hội nhập để có đủ tầm, đáp ứng cho sản suất nông nghiệp không chỉ phục vụ cho an toàn lương thực (food recurity) mà còn góp phần thiết thực cho phát triển kinh tế đối ngoại, kinh tế hàng hóa đối ngoại của nước ta với tiêu chí chất lượng và sạch (food quality and safety). Mục tiêu trước mắt là cung cấp sản phẩm nông nghiệp Việt Nam, chất lượng cao đủ để cạnh tranh với hàng hóa của các nước Asia và lâu dài với cộng đồng kinh tế thế giới.

Ảnh hưởng của gia tăng cơ hội chọn lựa thức ăn đến lượng ăn...

Những quan điểm dinh dưỡng chức ăn gần đây, người ta đã nhấn mạnh đến mục đích ăn của động vật rất đa dạng và thay đổi. Đàm Văn Tiện (2007) cho rằng: gia súc ăn không chỉ vì mục đích sinh trưởng (productivity aim), tạo ra năng suất động vật phục vụ cho mục đích của người chăn nuôi, mà ăn còn để cung cấp năng lượng và các chất dinh dưỡng giúp cơ thể khoẻ mạnh (well being). Ăn như thế nào để phục vụ cho mục đích khỏe mạnh vẫn còn là một chủ đề khoa học ít người biết đến.

Tập tính động vật, một hướng nghiên cứu mới

Động vật chọn lựa thức ăn gì và ăn bao nhiêu? Do tập tính kiểm soát (Provenza 1995, Forble 1995 và Nolan 1996). Cơ chế nào kiểm soát quá trình đó? Những câu hỏi đó vẫn chưa có lời giải đáp thuyết phục (Provenza, 1995). Trong khoảng 15 năm gân đây, các nhà nghiên cứu về tập tính đã đặt vấn đề nghiên cứu về cơ chế chọn lựa thức ăn và những yếu tố ảnh hưởng đến lượng ăn vào (food intake) với mục đích tìm hiểu về cơ chế kiểm soát các quá trình đó và ứng dụng cơ chế trong việc nâng cao lượng ăn vào để nâng cao hiệu quả sử dụng thức ăn trong chăn nuôi gia súc gia cầm (F.D. Provenza, 1995 ở Utah University Mỹ, J.V. Nolan 1995 ở UNE, Australia, M.Forble 1997 ở Leed University, UK. Đàm Văn Tiện và ctv 2002).

Bài viết mới

Bài viết được quan tâm