Ở các nước phát triển, tự tìm hiểu và định hướng nghề nghiệp là đặc điểm của loại hình đào tạo theo tín chỉ. Khó khăn lớn nhất mà sinh viên học theo cách đào tạo tín chỉ là trong những năm học đầu đều chưa biết và không nhất thiết phải xác định mình sẽ theo học ngành nào khi nó chưa thật thích hợp với nguyện vọng của họ.
Sinh viên vừa học vừa tự tìm hiểu thiên hướng nghề nghiệp của chính mình và đây là điểm tiến bộ trong giáo dục của họ. Chỉ tới khoảng cuối năm thứ hai hoặc năm thứ ba họ mới cần định hướng ngành học của mình bằng những tín chỉ nhất định mà họ chọn lựa. Tuy nhiên, mặt tiện ích của loại hình đào tạo này là cứ có "đủ bộ" tín chỉ của một ngành học nào đó thì họ được cấp bằng tốt nghiệp của ngành học ấy. Nếu muốn chuyển từ một ngành này sang một ngành khác, họ chỉ cần tự thay đổi một số tín chỉ, chứ không phải học lại từ đầu.
Ở nước ta, Bộ GD & ĐT đã quyết định chuyển phương thức đào tạo từ đào niên chế sang đào tạo tín chỉ là một chủ trương cải cách mạnh mẽ, nhưng điểm mấu chốt của hình thức đào tạo mới này lại chưa được các giáo viên trực tiếp giảng dạy ý thức, bàn thảo, nhằm thực thi đầy đủ. Thực tế là các cán bộ giảng dạy dường như phải tự hình dung một cách thiếu bài bản về việc mình sẽ sử dụng phương pháp giảng dạy như thế nào để phù hợp với yêu cầu mới.
Sinh viên chọn môn học như thế nào?
Ngay từ đầu một học kỳ mỗi sinh viên tự quyết định các môn mà mình sẽ theo học trong học kỳ đó, nhằm thu được một số tín chỉ nhất định. Nếu học ít môn quá, thì thời gian học sẽ kéo dài, tăng phí tổn, và khó được nhận học bổng. Nếu học nhiều môn quá thì sinh viên không đủ sức lực và thời gian. Tất nhiên, mỗi môn học đều có đòi hỏi tiên quyết về những môn sinh viên phải học trước đó. Trong mỗi học kỳ, mỗi môn học đều được giảng bởi nhiều giáo viên khác nhau, ở nhiều lớp khác nhau, tại nhiều thời điểm khác nhau. Sinh viên được quyền đăng ký vào học ở một trong các lớp này, chủ yếu dựa trên sự phù hợp về thời gian của họ với thời gian biểu của lớp học.
Với cách học theo tín chỉ, sinh viên có thể vừa đi làm để kiếm sống vừa đi học. Số sinh viên của mỗi lớp học thường được giữ cho không vượt quá 40 hoặc 50 người (theo tôi như vậy là vừa). Vì thế, nếu đăng ký muộn, sinh viên có thể không được xếp vào lớp mà anh chị ấy muốn. Đào tạo tín chỉ cũng cho phép sinh viên có thể xin đổi lớp để có thời gian biểu phù hợp hơn, hoặc để được học một thầy cô mà người đó thích, hoặc xin thôi học môn này.
Trong đào tạo theo tín chỉ, không có khái niệm hai sinh viên học cùng một lớp, chỉ có hai sinh viên học cùng một môn học. Các khái niệm lớp trưởng và giáo viên chủ nhiệm cũng do đó mà trở nên ít có nghĩa. Đây là vấn đề lớn cần được cân nhắc một cách thận trọng vì chúng ta đào tạo con người toàn diện "vừa hồng vừa chuyên".
Thầy cô giáo phải làm gì để gắn trách nhiệm của mình với chất lượng giảng dạy
Từng môn học đều có đề cương chi tiết được Hội đồng Khoa học các cấp phê duyệt và các khoa đưa lên mạng để sinh viên đọc và nghiên cứu. Đề cương từng môn học cũng cần chỉ rõ để sinh viên biết như: học theo sách nào, học những chương nào, những tiết nào bắt buộc, những tiết nào tùy chọn, mỗi chương và mỗi tiết chiếm thời lượng xấp xỉ bao nhiêu. Nói một cách khác không phải tất cả các nội dung trong giáo trình đều phải dạy hết. Phần nào không dạy trên lớp, giáo viên yêu cầu sinh viên tự nghiên cứu và phải được thông báo công khai rõ ràng. Đọc phần nào phải có bài tập giao cho sinh viên tự nghiên cứu và có viết thu hoạch, chấm thu hoạch và vào điểm để đánh giá tổng hợp sau này.
Trên thực tế, nếu làm đúng như đề cương đòi hỏi, thì bài giảng của các giáo viên tuy khác nhau về cách tiếp cận, phương pháp truyền đạt, phương tiện dạy nhưng nội dung không khác nhau nhiều, và chất lượng của môn học đã được đảm bảo chắc chắn. Trưởng bộ môn có trách nhiệm làm điều phối viên cho mỗi môn học. Nếu chuyên ngành quá xa và đặc biệt, thì trưởng bộ môn cử một cán bộ khác, giàu kinh nghiệm làm thay công việc của mình. Nhiệm vụ của người này là trả lời những thắc mắc của các giáo viên mới hoặc ít kinh nghiệm giảng dạy, thống nhất quan điểm của các giáo viên cùng dạy môn này, và nhắc nhở mọi người về thời gian các kỳ thi giữa và cuối kỳ. Họ thường làm tất cả những trao đổi này qua email, chứ không cần họp hành.
Khi nhận phân công giảng dạy một môn học, mỗi giáo viên được thông báo thông qua mạng thời gian và địa điểm dạy, thời gian và địa điểm thi hết môn. Mỗi giáo viên được giao một trợ lý, làm việc chấm bài tập về nhà cho môn học mà mình dạy. Lực lượng các nghiên cứu sinh thạc sỹ hoặc tiến sỹ có năng lực làm việc với giáo viên có thể sử dụng vào công việc này. Người này thường là sinh viên giỏi trước đây được bộ môn tín nhiệm thuê làm một phần thời gian. Nhiệm vụ của người này là chấm bài tập và lên điểm. Cuối học kỳ giáo viên đánh giá chất lượng công việc của người trợ lý. Trên cơ sở đó, Khoa sẽ quyết định có tiếp tục thuê người này nữa hay thôi. Đó là nề nếp và cách thức chấm bài của các nước tiên tiến và ở ta các thầy cô phải tự đảm nhiệm việc này.
Đề cương môn học
Trước khi môn học bắt đầu, giáo viên phải soạn một đề cương chi tiết, các chỉ dẫn tham khảo tài liệu, cách học, phương pháp đánh giá kết quả, chuẩn đầu ra môn học và phát bản in cho mỗi sinh viên trong buổi học đầu tiên và đưa nó lên mạng internet. Nội dung của đề cương ngoài những quy định chung của trường, còn có những quy định riêng của giáo viên đó đối với sinh viên.
Điểm của môn học được quyết định dựa trên điểm bài tập về nhà, điểm của hai kỳ thi giữa học kỳ, và điểm kỳ thi hết môn. Giáo viên được quyền quyết định tỷ lệ phần trăm của những điểm thành phần nói trên trong điểm chung của môn học. Thời điểm thi của các kỳ thi giữa học kỳ do giáo viên tự quyết định, và thường được thông báo ngay từ đầu học kỳ, trong chương trình giảng dạy của giáo viên ngay từ đầu khi giảng môn học của mình.
Giáo viên phải bố trí cho mỗi lớp mình dạy mỗi tuần 2 lần, mỗi lần 1 giờ, gọi là thời gian giải đáp thắc mắc và các yêu câu của sinh viên. Đó là lúc mà giáo viên có nghĩa vụ phải ở phòng làm việc của mình, để cho sinh viên có thể tới hỏi bài. Mỗi giáo viên ở các nước nếu là phó giáo sư trở lên đều có phòng làm việc riêng, nên chuyện này không có gì phiền phức. Ở ta do điều kiện khó khăn nên các văn phòng bộ môn và văn phòng khoa được lên lịch cho công việc này. Sinh viên cũng có thể liên hệ với giáo viên qua email hoặc điện thoại để hẹn giờ hỏi bài riêng.
Giáo viên thông báo địa chỉ trang web mà mình gửi giáo trình và bài giảng ở đó, địa chỉ email cá nhân, giao bài tập cho sinh viên và nhận đáp án của họ qua mạng để tiện lợi và tiết kiệm giấy mực. Ở các nước, những lời dặn mỗi tuần của giáo viên, thông báo thời gian nhận và trả bài tập về nhà hàng tuần cho sinh viên, thông qua mạng và được các giáo viên ưa chuộng. Vì rằng họ có thể chấm bài bất cứ ở đâu và bất cứ thời gian thích hợp trong ngày. Tất cả những quy định của mỗi môn học đều được viết rõ ràng và chi tiết trong đề cương môn học của riêng giáo viên, được coi là quy định của môn học và được đưa lên mạng từ đầu học kỳ.
Phương pháp dạy và học
Về nguyên tắc, người ta khuyến khích giáo viên dạy theo phương pháp đối thoại với sinh viên trong lúc giảng bài, nhưng việc giảng bài trên lớp ở các nước về cơ bản không khác với việc giảng bài ở ta. Điểm khác căn bản có thể là: sinh viên không thích nói quá nhiều về lý thuyết, họ quan tâm và đòi hỏi bài giảng được tập trung vào giải nghĩa "cái thần" của kiến thức và ứng dụng thực tế của vấn đề trong sản xuất và đời sống. Sinh viên ngoại quốc cũng rất chú trọng các kỹ năng thực hành. Họ có thể tự hài lòng khi chưa thấu đáo ý nghĩa lý thuyết của vấn đề, nhưng nếu họ không làm được bài tập thì họ sẽ phản ánh ngay với bộ phận quản lý về việc chậm trễ ra bài tập và trả bài tập của giáo viên. Nếu bài tập của sinh viên không được chấm thỏa đáng, có sự đánh giá không tương xứng, thì họ sẽ "kiện" giáo viên thông qua hệ thống quản lý. Việc mất việc làm của giáo viên phụ thuộc nhiều vào những việc như vậy, kể cả các vị giáo sư.
Hàng tuần sinh viên nhận bài tập được giao trên mạng. Bài tập có thể gồm 2 loại, một loại dành cho luyện tập và không phải nộp để giáo viên chấm, một loại khác sinh viên phải nộp lại đáp án cho giáo viên vào thời điểm đã hẹn của tuần tiếp theo. Giáo viên chuyển các bài tập vào hòm thư của mình để người trợ lý tới lấy, chấm bài, lên điểm và chuyển lại vào hòm thư cho giáo viên. Giờ tự học của sinh viên được ghi trong chương trình dạy học như là một nhắc nhở và sinh viên ở bất cứ đâu, bất cứ thời gian nào cũng phải tự học. Nhưng việc tự học của sinh viên không phải là một bộ phận của chương trình giảng dạy.
Ở ta mọi công việc trên do giáo viên đảm nhận vì ta không có biên chế trợ giảng. Câu hỏi đặt ra là giáo viên ta có sẵn sàng thay đổi thói quen giảng dạy và chấm bài như các nước không? Hay chúng ta lại nói: giảng và học theo chế độ tín chỉ là quá trình phức tạp hóa quy trình giảng dạy và làm cho giáo viên mệt mỏi, mà chất lượng chắc gì đã tốt hơn chế độ niên chế. Đúng là như vậy. Chúng ta chấp nhận chất lượng giảng dạy theo cơ chế mới này có thể giảm ở một số năm đầu, do chúng ta chuẩn bị chưa kịp về cơ sở vật chất và con người cho sự cải cách. Nhưng Bộ GD & ĐT đã quyết và Đại học Huế đã ban hành quyết định giảng dạy tín chỉ. Chúng phải làm và làm như thế nào để sớm định hình cơ chế giảng dạy mới này là trách nhiệm và là tâm huyết của mỗi chúng ta với nghề nghiệp.
Chấm thi
Ở phần lớn các nước, giáo viên ra đề, tự coi thi và tự chấm thi, tất cả các lần thi giữa kỳ và hết môn. Phòng thi không cần thiết tới 2 người coi vì họ quan niệm rằng "không tin thầy cô, các nhà sư phạm mẫu mực là sự thiếu tôn trọng nghề dạy học". Đương nhiên đó là quan điểm của các nước có dân trí cao. Bài thi không cần rọc phách. Cũng có trường đại học quy định kỳ thi hết môn đối với các môn học ở năm học đầu do một hội đồng của Khoa ra đề chung. Điều kiện cần để hoàn thành môn học này là sinh viên phải đạt ít nhất 50% số điểm của kỳ thi hết môn. Điều kiện đủ thì do giáo viên tự quyết định do kết quả của điểm thi giữa kỳ, bài tập và tinh thần tích cực tham gia thảo luận trao đổi của sinh viên và nhất là những sáng kiến trong học tập của họ trong lớp học.
Mỗi giáo viên được quyền tự quyết định tỷ trọng của điểm bài tập về nhà, điểm của hai kỳ thi giữa học kỳ, và điểm kỳ thi hết môn trong điểm chung của môn học. Giáo viên cũng có quyền cho phép hoặc không cho phép sinh viên được làm lại bài thi giữa kỳ và nộp cho giáo viên, nhằm ghi thêm điểm. Giáo viên tự lên điểm và gửi bảng điểm cho giáo vụ trường một cách trực tiếp, hoặc qua hệ thống thư tín trong trường, đôi khi cũng có thể gửi qua thư ký của Khoa. Trong trường hợp xét vớt, giáo viên có quyền đòi hỏi sinh viên ấy làm một số bài tập bổ sung, hoặc viết thu hoạch về một vấn đề liên quan đến môn học, trên cơ sở đó mà quyết định điểm môn học cho sinh viên này, rồi thông báo kết quả cho giáo vụ. Nếu bị đánh trượt, sinh viên sẽ phải học lại cả môn, không có chuyện thi lại.
Điểm kết quả thi của sinh viên là bí mật cá nhân của mỗi sinh viên. Điểm của mỗi sinh viên được giáo vụ chuyển vào trương mục riêng của sinh viên đó trong hệ thống internet của trường. Giáo viên có thể thông báo điểm cho từng sinh viên, nhưng không được báo điểm của người này cho người khác. Đây là một kỹ thuật tâm lý rất đáng được ta áp dụng, vì nó làm cho sinh viên không bị quá nhiều sức ép tâm lý từ xã hội học tập của họ.
Đánh giá giảng dạy
Cuối học kỳ, trước kỳ thi hết môn, mỗi sinh viên được phát một mẫu "đánh giá giảng dạy". Sinh viên được nhận xét về những điều bổ ích hay chưa bổ ích của môn học, ưu điểm và nhược điểm của môn học, ưu điểm và nhược điểm của người giảng dạy. Giáo viên tôn trọng và không can thiệp vào đánh giá này. Đây là một hình thức xả "stress" mà các trường đại học nước ngoài dành cho sinh viên. Ở một số trường đại học cũng có thể, trong một chừng mực nhất định, dựa trên những đánh giá của sinh viên để thay đổi một phần nội dung môn học, khiến cho nó dễ được thu nhận hơn. Một số trường đại học thông báo lại cho giáo viên bản tổng hợp những đánh giá của sinh viên đối với bài giảng của giáo viên này, trên tinh thần tôn kính nghề dạy học.













