Biến đổi khí hậu – Nhận diện thách thức: Bài 1

Cố tình tàn phá môi trường rồi lấp liếm bằng việc đổ lỗi cho BĐKH; sẽ chẳng thể đối phó với BĐKH khi vấn đề này không được quan tâm đúng mức… Đó là những lo ngại của các nhà quản lý, nhà khoa học khi bàn về giải pháp đối phó với BĐKH…

<!–

–>

Cố tình tàn phá môi trường rồi lấp liếm bằng việc đổ lỗi cho BĐKH; sẽ chẳng thể đối phó với BĐKH…

Ảnh minh họa

Bài 1: Đối phó ngay từ bây giờ

Theo Ủy ban liên chính phủ về biến đổi khí hậu của Liên hiệp quốc (IPCC), các nhà khoa học đã đưa ra kịch bản phỏng đoán, vùng ĐBSCL sẽ là một trong những đồng bằng trên thế giới sẽ đối mặt với nhiều vấn đề bất lợi.

Cụ thể, hàng năm từ tháng 1 – 4: khô nóng, thiếu nước, gió chướng, nhiễm mặn; từ tháng 5 – 6: hạn; tháng 7- 8: lũ sớm, tháng 9- 10: lũ, sạt lở, mưa, triều cường; tháng – 12: bão và lạnh.

Trước xu thế biến đổi khí hậu (BĐKH) tác động lớn đến vùng sản xuất nông nghiệp lớn của cả nước với hơn 17 triệu dân, PGS – TS Lê Quang Trí – Phó Hiệu trưởng trường ĐH Cần Thơ, kiêm phụ trách Viện nghiên cứu BĐKH (Dragon Mekong) cho biết, hiện nay Viện đang xúc tiến tăng cường mối liên kết với các Viện, trường nghiên cứu về lĩnh vực BĐKH. Viện sẽ sớm công bố những thông tin về BĐKH mới nhất trên thế giới và kể cả các địa phương trong vùng đến cấp lãnh đạo chính quyền các tỉnh. Bên cạnh đó, Viện sẽ bàn thảo với cấp lãnh đạo địa phương tiến tới xây dựng mạng lưới lan tỏa, làm cho cộng đồng dân cư hiểu biết rộng rãi.

Theo ông Trí, sắp tới Viện sẽ xây dựng kịch bản BĐKH trong từng địa phương, trước tiên là TP. Cần Thơ với sơ đồ theo từng bước đi ngắn hạn, trung hạn, dài hạn.

Tại hội thảo "Tác động của BĐKH đối với ĐBSCL" tại TP. Cần Thơ vừa qua, các nhà khoa học đề xuất giải pháp ứng phó và thích nghi với tác động của BĐKH ở ĐBSCL. Quá trình xâm nhập mặn đã ngày càng dấn sâu vào vùng nội địa ĐBSCL và sắp tới sẽ không loại trừ địa phương nào. Vì vậy, cần lựa chọn giải pháp tối ưu để ứng phó ngay từ bây giờ. Trong đó, việc qui hoạch phát triển kinh tế – xã hội phải gắn với ổn định sản xuất, bảo vệ môi trường.

Nhìn về góc độ hợp tác chặt chẽ với địa phương trong vùng ĐBSCL, TS Lê Anh Tuấn – Chánh văn phòng Viện nghiên cứu Biến đổi khí hậu đưa ý kiến: "Từ bây giờ có thể nghĩ nhiều cho việc điều chỉnh thời vụ, tìm giống mới, tiết kiệm nguồn nước và năng lượng, giảm chất thải, khí nước, rác, bảo vệ rừng, cây xanh và hệ sinh thái đất ngập nước".

Yếu kém về nhận thức

GS.TSKH Trương Quang Học – Trưởng ban Biến đổi khí hậu của Hội Bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường Việt Nam là thành viên tư vấn của Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu. Theo GS Học, cụ thể Chương trình được chia thành các giai đoạn: Giai đoạn I (2009-2010): Khởi động, chuẩn bị đầy đủ về mặt thể chế, tổ chức, đánh giá, kế hoạch, cơ chế và quy chế quản lý, các nguồn lực cần thiết và các thí điểm để triển khai thực hiện…

Giai đoạn II (2011-2015): Triển khai toàn diện các nội dung của Chương trình để từng bước đạt được các mục tiêu của Chương trình; tại tất cả các tỉnh, thành phố đều có kế hoạch hành động chi tiết và triển khai cụ thể vào địa phương mình… Giai đoạn III (sau 2015): Mở rộng và phát triển các hoạt động ứng phó với BĐKH trên cơ sở những kết quả và kinh nghiệm của giai đoạn triển khai. Kinh phí thực hiện, kinh phí cần cho những hoạt động thực hiện Chương trình giai đoạn 2009 – 2015 là 1.965 tỷ đồng (số tiền đầu tư cơ sở hạ tầng phải gấp hàng trăm lần thế này)…

GS Nguyễn Ngọc Trân:

Ứng phó với mực nước biển dâng là một nhiệm vụ có tầm quan trọng hàng đầu về nhiều mặt: kinh tế, xã hội, an ninh quốc phòng…, chẳng những của ĐBSCL mà còn của cả nước. Các địa phương phải tranh thủ điều tra, nghiên cứu trên từng địa bàn bị đe dọa để chuẩn bị phương án ứng phó tốt nhất.

Khó khăn trước tiên là sự yếu kém về nhận thức, cả về phạm vi và mức độ cũng như các biện pháp để ứng phó với BĐKH. Sự thiếu nhận thức tồn tại ở các cấp, từ các nhà hoạch định chính sách, các cán bộ ở các ngành và địa phương… Vì thế, nâng cao nhận thức cho mọi tầng lớp rõ ràng là hoạt động cần được ưu tiên đầu tiên. Khó khăn thứ hai là thiếu sự phối hợp để ứng phó với BĐKH trong xây dựng các chính sách, quy hoạch và chương trình trong các ngành và lĩnh vực, ngay cả trong những ngành nhạy cảm với khí hậu.

Khó khăn thứ ba là thiếu các công cụ và phương pháp luận để hướng dẫn và tư vấn cho các nhà ra chính sách. Điều này xảy ra ngay cả đối với các cán bộ chuyên môn ở các ngành, các cấp ở địa phương và các cộng đồng dễ bị tổn thương. Khó khăn thứ tư là sự thiếu kiến thức. BĐKH là vấn đề lâu dài, các tác động của BĐKH là rất phức tạp bao gồm cả những tác động hiện tại và những tác động tiềm tàng. Những hiểu biết của Việt Nam về quá trình BĐKH cũng như tác động của chúng đến các hoạt động kinh tế – xã hội cũng còn rất hạn chế. Gần như họ không biết gì vì còn nhiều người cứ nghĩ biến đổi khí hậu chỉ đơn giản là… thiên tai.

Ông Lê Huy Ngọ – Nguyên Bộ trưởng Bộ NN & PTNT: 

Sợ nhất là con người làm kiệt quệ tài nguyên lại đổ lỗi do BĐKH

Tôi theo dõi không sót bài nào trong chuyên đề "Biến đổi khí hậu – Nhận diện thách thức" của NNVN và rất ủng hộ hướng đi của Báo. Hồi tôi còn làm Bộ trưởng, nói chuyện biến đổi khí hậu chỉ nhận thức vậy thôi, chỉ nặng về đối phó với thiên tai, lụt bão còn ngày nay các kịch bản ngày càng rõ, toàn diện hơn. Vấn đề không chỉ ảnh hưởng đến hôm nay, mà còn con cháu chúng ta phải hứng chịu.

Tôi nghĩ, có những thứ thiên tai không phải do biến đổi khí hậu toàn cầu mà do bàn tay con người, do nhận thức sai, quy hoạch sai khi thực hiện những dự án mà làm tổn hại đến môi trường. Tôi sợ nhất sự phủi tay, mình làm biến đổi môi trường, kiệt quệ tài nguyên ở địa phương mình nhưng lại đổ tại hết cho biến đổi khí hậu toàn cầu. Chúng ta phải tỉnh táo, sử dụng những công nghiệp sạch, thân thiện với môi trường chứ không phải cứ lo làm công nghiệp rồi sau khắc phục môi trường. Nếu môi trường bị phá huỷ, trước tiên mình sẽ hứng chịu, dân mình sẽ khổ chứ chưa nói tới ảnh hưởng đến thế giới.

Nước ta ở vùng địa lý nhạy cảm, chưa có biến đổi khí hậu đã bao thiên tai, bão, lũ lụt; có năm mất gần 1% GDP rồi. Trước, chúng ta hô hào chống lũ rồi sau đó phòng chống lũ, nay là sống chung với lũ, nghĩa là vừa hạn chế những tác hại của nó đồng thời phát huy những cái tốt, cái lợi của nó chứ không phải đương đầu với nó. Đó là một bước tiến lớn về nhận thức. Có những thứ cần chuẩn bị lâu dài nhưng cũng có việc cần hành động ngay.

Tôi nghĩ, rất nên có chương trình nâng cao hiểu biết của người dân về biến đổi khí hậu và thiên tai. Thiên tai xảy ra bất thường, dù có dự báo cũng không thể hết. Tôi từng làm Trưởng ban PCLB TW nên thấm thía việc chủ động đối phó của người dân cần thế nào. Khi thiên tai xảy ra, chúng tôi đi máy bay trực thăng nhiều khi cũng chỉ để hỗ trợ tinh thần mà thôi. Tôi nhớ mãi chuyện một em bé Thái Lan ra bờ biển trông thấy từ xa sóng cao bất thường liền chạy về hét to: Sóng thần, sóng thần. Bố mẹ em và dân làng vội chạy vào một cánh rừng gần đấy. Mấy chục mạng người thoát nạn cũng nhờ tin báo của em bé đó. Nước họ, người ta đã dạy từng em bé những dấu hiệu của thiên tai kỹ đến như thế. Quay lại nhìn mình thì…