Hôm nay, Thứ 4 17/09/14 5:53

Thời gian được tính theo giờ UTC + 8:45 Giờ




Tạo chủ đề mới Gửi bài trả lời  [ 2 bài viết ] 
Người gửi Nội dung
 Tiêu đề bài viết: Ứng dụng VSV trong CNTP !!!
Gửi bàiĐã gửi: Thứ 7 24/07/10 20:34 
Kỹ sư
Kỹ sư
Hình đại diện của thành viên

Ngày tham gia: Chủ nhật 07/09/08 19:17
Bài viết: 212
Đến từ: thừa thiên huế
I.GIỚI THIỆU:

Lĩnh vực vi sinh thực phẩm có thể được hiểu như là một ứng dụng về những nguyên tắc kiểm soát sự phát triển của VSV để tránh sự hư hỏng thực phẩm và những bệnh do thực phẩm truyền cho con người cũng như sự nhận thức rõ về các hoạt động của VSV để tạo ra các sản phẩm phục vụ nhu cầu con người. Một mặt quá trình hư hỏng thực phẩm do VSV mà không thể kiểm soát được làm giảm giá trị của sản phẩm, nhưng mặt khác, quá trình hư hỏng do VSV mà có thể kiểm soát được lại được sử dụng để sản xuất các sãn phẩm thực phẩm có giá trị.

Nhiều phương pháp bảo quản thực phẩm đã được áp dụng để kéo dài thời gian sử dụng của sản phẩm thực phẩm. Một vài phương pháp bảo quản hiện đại bao gồm việc đóng hộp và đông lạnh có thể kéo dài vô định thời gian sử dụng sản phẩm. Việc làm tăng thởi gian sử dụng của sản phẩm vô cùng quan trọng bời vì ngày nay phần lớn dân số thế giới đều sống tại các trung tâm thành phố, điều này đòi hỏi việc bảo quản và quá trình vận chuyển kéo dài do thực phẩm chỉ được sản xuất theo mùa nhưng lại có nhu cầu quanh năm. Việc vận chuyển bằng đường thủy và sự phân phối thực phẩm đến người dân thành thị nơi cách xa khu vực sản xuất các sản phẩm nông nghiệp nên cần thiết phải kéo dài thời gian bảo quản thực phẩm vì điều này không giống như khu vực nông thôn nơi mà các sản phẩm được tiêu thụ nhanh chóng sau khi thu hoạch. Việc bảo quản thực phẩm đúng cách thì quan trọng đối với sức khỏe cộng đồng, điều này rất tốt trong việc đáp ứng những sản phẩm cần thiết cho nhu cầu dinh dưỡng của con người.

Việc ứng dụng VSV để sản xuất các sản phẩm thực phẩm cũng quan trọng để đáp ứng nhu cầu thục phẩm của dân số thế giới đang ngày càng tăng. Những sản phẩm lên men vi sinh như phomat là một thành phần quan trọng trong chế độ ăn hằng ngày của nhiều người. Những đồ uống có gas như bia, sâmpanh cũng được tiêu thụ phổ biến. Nhiều sản phẩm được sản xuất theo phương pháp vi sinh được xem là thức ăn ngon, tăng thêm sự ngon miệng. Việc ứng dụng VSV để sản xuất protein đơn bào cung cấp nguồn thức ăn giàu protein giá rẻ quan trọng trong tương lai. Sự phát triển của ngành vi sinh thực phẩm mang lại những phương pháp quan trọng mà ở đó những hiểu biết cơ bản của chúng ta về những hoạt động của VSV được áp dụng để khắc phục vấn đề thiếu lương thực và viện trợ, giúp đỡ phát triển kinh tế ở những khu vực khác nhau trên thế giới. Vấn đề thách thức hiện nay đối với công nghệ thực phẩm là làm sao tăng sản lượng thực phẩm, kéo dài thời gian sử dụng và đáp ứng được những yêu cầu chung đối với thực phẩm đó là vừa đủ dinh dưỡng, an toàn vừa ngon miệng.


II.

CÁC CHỦNG VI SINH VẬT:

1. Nấm men:

Nấm men, một loài nấm đơn bào có kích thước hiển vi quan trọng trong hoạt động lên men các hợp chất carbohydrate trên môi trường cơ chất khác nhau. Nhìn chung nấm men phổ biến trong tự nhiên, có mặt trong đất và trên các loài thực vật. Nhiều nấm men được nuôi cấy thuộc chủng Saccharomyces, chúng được xem như “nấm men bia” thuộc loài S.cerevisiae.

Nấm men đã được sử dụng từ thời nguyên thủy để sản xuất bánh mì và rượu, tuy nhiên việc nuôi cấy và sử dụng nấm men trên quy mô lớn dựa vào nền tảng khoa học lại được thực hiện bởi nhà vi sinh vật học người Pháp Louis Pasteur vào thế kỉ 19. Ngày nay, nấm men được sử dụng trên quy mô công nghiệp trong hầu hết các quá trình lên men, trong y học, được xem như nguồn hỗn hợp vitamin B và thiamin ngoài ra, nó còn là nhân tố trong quá trình sản xuất các loại kháng sinh, hormone steroid, làm thức ăn gia súc và công nghiệp thực phẩm.

Nấm men thuần chủng phát triển trên môi trường dinh dưỡng gồm đường, nguồn nitơ, khoáng chất và nước. Sản phẩm cuối cùng có thể ở dạng tế bào nấm men khô hay nấm men được trộn với tinh bột tạo thành dạng bánh. Khi một mẻ men dùng để làm bánh mì, sản xuất dược phẩm hay thực phẩm đã hoàn tất thì môi trường mà trong đó nấm men phát triển được loại bỏ. Tuy nhiên trong quá trình sản xuất rượu, bia, cồn y học và cồn công nghiệp, thì môi trường lên men chính là sản phẩm được thu nhận và nấm men bị loại bỏ hoặc dùng làm thức ăn gia súc.

2. Vi khuẩn:

Vi khuẩn là sinh vật đơn bào chỉ nhìn thấy được dưới kính hiển vi. Vi khuẩn tồn tại xung quanh và trong chính chúng ta. Vi khuẩn được cho rằng có nguồn gốc từ Trái đất nguyên thủy và tồn tại cho đến ngày nay. Nhiều loài đã thay đổi và không còn khả năng tồn tại trong môi trường khắc nghiệt thuở ban đầu của Trái đất. Tuy nhiên nhiều loài khác không thay đổi nhiều. Ngày nay, nhiều loài vi khuẩn có khả năng phát triển ở nhiệt độ cao hơn nhiệt độ sôi của nước, 100oC(212oF). Những vi khuẩn này sống sâu dưới đáy đại dương hay trong lòng đất. Một số khác không thể tiếp xúc với khí oxy và có thể sống trong môi trường không oxy- ví dụ như trong ruột chúng ta, hay ở trong bùn của các đẩm lầy, bãi lầy. Những loài khác vẫn có khả năng chống lại sự bức xạ. Vi khuẩn là một loài thực sự phi thường trong việc thích nghi với môi trường sống khắc nghiệt cùng với khả năng tồn tại và phát triển mạnh của chúng ở những nơi được xem là không tồn tại sự sống. Bất cứ đâu có sự sống thì sẽ có sự tồn tại của vi khuẩn. Ngành công nghiệp sữa cung cấp những ví dụ đầu tiên về lợi ích cũng như sự có hại của vi khuẩn. Trước khi phương pháp thanh trùng Pasteur được đưa ra vào cuối những năm 1800, các sản phẩm sữa chứa lượng lớn VK chính là nguyên nhân gây bệnh lao phổi và bệnh tim mạch. Nhưng kể từ đó, sự điều chỉnh trong công nghiệp sữa đã làm giảm đi rất nhiều nguy cơ nhiễm độc từ các sản phẩm chế biến từ sữa.

3. Nấm mốc:

Sự phát triển có dạng sợi của mốc, fuzzy trên cơ chất hữu cơ là do một số ít loài thuộc nấm mốc. Nấm mốc và nấm mildew được sử dụng thay thế nhau thường xuyên mặc dù mốc thường được dùng để chỉ sự phát triển của các loại nấm có màu đen, xanh, và đỏ còn mildew dùng để chỉ mốc trắng. Mốc đen, Asp.niger là một trong số những loài mốc chỉ quan sát được dưới kính hiển vi, các bào tử mốc bám vào bề mặt ẩm ướt của các chất hữu cơ để nảy mầm. Nó trải rộng khắp bề mặt, hình thành hệ sợi nấm mà hệ sợi này được tạo nên từ sự đan xen thành mạng lưới của những sợi tơ nhỏ. Hệ sợi này tạo ra những đám tơ khác có dạng như rễ gọi là rễ giả, đâm xuyên qua vật chất hữu cơ, tiết enzyme, hút nước đồng thời phân giải đường và tinh bột. Những đám tơ khác của hệ sợi gọi là hệ túi bào tử, hệ này sau đó sẽ hướng lên hình thành các túi bào tử, các túi bào tử này tạo ra màu đặc trưng cho mỗi loài mốc. Đến khi chín, túi bào tử vỡ ra, các bào tử theo gió phân tán khắp nơi để tái sinh sản.

4. Tảo

Tảo, một nhóm đa dạng các sinh vật dạng thực vật đơn giản. Giống như thực vật, hầu hết tảo sử dụng năng lượng ánh sáng mặt trời để làm nguồn thức ăn cho chúng, quá trình này gọi là quá trình quang hợp. Tuy nhiên, tảo không có rễ, lá và các cơ quan khác điển hình của một thực vật thực sự. Tảo là sinh vật quang hợp quang trọng trên Trái Đất. Chúng thu nhận nhiều năng lượng ánh sáng mặt trời và tạo ra nhiều oxy hơn (một sản phẩm phụ của quá trình quang hợp) hơn hầu hết các thực vật. Tảo tạo thành cơ sở của hầu hết mạng lưới thức ăn dưới nước, mà mạng lưới này đáp ứng cho 1 lượng lớn động vật. Tảo rất đa dạng về kích thước và phát triển ở đa dạng môi trường. Vi tảo,

được gọi là phytoplankton lơ lửng hoặc chìm sâu trong các hồ và đại dương. Phytoplankton nhỏ đến mức 1000 cá thể có thể tập trung đủ trên 1 đầu ghim. Thể lớn nhất của tảo là tảo biển, loài tảo biển này dài 100m (300ft) từ dưới đại dương lên đến bề mặt nước. Mặc dù hầu hết các loài tảo đều phát triển trong môi trường nước ngọt hay nước biển, chúng còn phát triển trên đất, cây và ở các loài động vật, và đồng thời cả bên dưới và phía trong các tảng đá xốp, như là sa thạch và đá vôi.

Tảo chịu được 1 khoảng nhiệt độ rộng và có thể tìm thấy sự phát triển của chúng ở các suối nước nóng, ở các bờ tuyết, hoặc sâu dưới lớp băng tuyết. Tảo còn thiết lập mối quan hệ cộng sinh tương tác có lợi với các sinh vật khác. Ví dụ, tảo sống với nấm hình thành các địa y – cây non hoặc sự phát triển của nhánh cây mà từ đó hình thành nên các tảng đá cuội, vách đá, và thân cây. Tảo gọi làzooxanthellaesống bên trong các tế bào của việc rặng san hô. Trong mọi trường hợp, tảo cung cấp oxy và các hợp chất dinh dưỡng cho những sinh vật sống cộng sinh với chúng, và ngược lại chúng nhận được sự bảo vệ và các chất dinh dưỡng đơn giản. Sự sắp xếp này cho phép các loài cộng sinh có thể sống sót trong những điều kiện mà các điều kiện này chúng không thể chịu đựng một mình. Trong khi hầu hết tảo tự tạo nguồn thức ăn cho chúng thông qua quá trình quang hợp, một vài loại tảo không có khả năng quang hợp. Các loài tảo dùng thức ăn từ các nguồn bên ngoài bằng việc hút các chất dinh dưỡng đơn giản thong qua màng tế bào. Để hút nhiều hợp chất dinh dưỡng, tảo thiếu những thành lưới có khả năng nhận chìm thức ăn ít và tiêu hoá chúng. Một vài loài tảo được biết đến nhưdinoflagellates
, kéo dài 1 ống cung cấp thức ăn gọi là

cuống, để mút thức ăn. Các loài
dinoflagellates khác sử dụng các kết cấu như một cái móc đặc biệt để bẫy thức ăn của chúng. Nhiều loài tảo là loài ký sinh, sống trong hoặc trên một sinh vật khác mà từ đó chúng có thể lấy thức ăn. Vài loài tảo đỏ ký sinh trên một loài tảo đỏ khác, và dinoflagellates ký sinh sống trong ruột của các sinh vật biển như là loài giáp xác và loài chân đốt.


III.VI SINH ỨNG DỤNG TRONG THỰC PHẨM

1. Bột ngọt:

Monosodium glutamate còn được gọi là glutamat natri và MSG, là một loại muối natri của axit amin không thay thế - axit glutamic. Nó được xem như là một chất phụ gia thực phẩm và được dùng phổ biến để tăng mùi vị thực phẩm. MSG được sản xuất bởi quá trình lên men nguồn carbohydrat. Những loài vi khuẩn được sử dụng là Brevibacterium, Arthrobacter, MicrobacteriumCorynebacterium. Phương pháp này có thể sản xuất với năng suất 100g/l. Từ 1909 cho đến giữa những năm 1960, MSG được sản xuất bởi sự thủy phân gluten của lúa mì, trong đó chứa khoảng 25% a. glutamic. A. glutamic là một trong những aa hòa tan hoàn toàn, vì vậy quá trình tinh sạch nó cũng rất dễ dàng.

Rỉ đường¬nguyên liệu đường


Môi trường lên men¬bổ sung dinh dưỡng


Thanh trùng → để nguội khoảng 30-500C → tiến hành lên men →bổ sung VK → lọc → dung dịch a.glutamic

→ cho NaOH → dung dịch muối glutamat Na

→ cô đặc → kết tinh → sấy khô →

tinh thể glutamate Na

2. Protein đơn bào (SCP)

Việcsử dụng vsv để E trao đổi S trong sản phẩm thứ ăn, vsv có thể phát triển như nguồn của SCP, chúng có tên như vậy bởi vì vsv là những sv đơn bào giàu pr. Những vsv phát triển nhanh chóng và tạo ra số lượng lớn, thu lượng protein lớn. Những pr được tạo ra từ vsv mang tất cả những tính chất của a.a. các loại vsv như nấm mốc và tảo là nh7ng4 nguồn tiềm năng cho việc sản xuất lượng lớn SCP. Tảo Scenedesmus và Spirulina , ví dụ như được nuôi cấy trong ao nước ấm chúng sử dụng như là nguồn dinh dưỡng. Sản phẩm của SCP từ tảo thỉ thuận lợi hơn vì những vsv này có thể tận dụng năng lượng mặt trời, làm giảm 1 lượng lớn nguồn nguyên liệu đốt từ thiên nhiên để sản xuất SCP. Hiện nay 1 vài loại tảo được thu hoạch như là nguồn thực phẩm

Việc nghiên cứu về khái niệm của sản phẩm SCP đã được bắt đầu từ những năm 1960 bởi những công ty dầu khí khi khoáng sản có giá thành chưa cao và khi nó được biết đến như là chất để thu hút hoạt động thuộc nền kinh tế phát triển SCP. Tổ chức lớn Imperial Chemical Works ở Anh đã sản xuất ra Pruteen. Sản phẩm SCP của Methylophilus, 1 loài vk sinh trưởng trong phức hợp C1. Quả thực , quá trình được mô tả nhiều nhất cho sản phẩm SCP đều tin vào sự sinh trưởng của vsv trong phức hợp C1. Hãng Methylophilus phát triển treên lĩnh vực rượu methanol thu được từ methane và thu được tế bào, đem ly tâm, sấy và bán ở dạng viên tròn nhỏ hoặc thành những hạt nhỏ. Vì giá dầu tăng mạnh, những nguồn dầu hydrocarbons thì không được quan tâm đến nhiều như chất đầu cho sản phẩm SCP. Những sản phẩm đơn giản không thể làm cho nền kinh tế cạnh trang với sản phẩm từ đậu nành và thực phẩm từ cá. Tương lai nguồn methanol ít hơn, có thể được chuyển hóa từ cellulose, có thể khơi dậy khả năng cho sản phẩm có tầm quan trọng của SCP.

Những nấm men có những khả năng tối ưu cho sự phát triển như nguồn thương mại của SCP. Nấm men gốc SCP có chứa lượng vitamin cao. Nấm men có nhiều loại khác nhau, bao gồm những giống thuộc loài Saccharomyces, Candida và Torulopsis có thể sinh trưởng trong rác thải, chất tái chế thành nguồn có ích cho thực phẩm. Sự sinh trưởng của nấm men trong rác thải thực hiện 2 chức năng: sự di chuyển của những chất thừa và tọa ra sản phẩm nhiều protein cần thiết giàu dinh dưỡng. Ở U.S.S.R có 1 nền sản xuất thương mại lớn của Canada về nấm men protein từ than bùn hydrolyzed. Khoảng 1.1 triệu tấn nấm men protein mỗi năm được sản xuất nhanh chóng mở rộng neền công nghiệp SoViet để nhằm giảm bớt sự phụ thuộc của Soviet vào việc nhập khẩu lương thực.

SCP thì được sản xuất chủ yếu ở thức ă gia súc, có những vấn đề về việc sử dụng SCP làm thực phẩm ăn kiêng ở người vì tập trung lượng a.nucleic cao từ 6-11%. Kết quả này có thể làm tăng nồng độ huyết thanh, a.uric gây ra bệnh sỏi thận hoặc bệnh gut có thể gây phản ứng phụ và ảnh hưởng đến đường tiêu hóa như là bệnh tiêu chảy và nôn mửa. Những con gà và 1 vài động vật khác, dù thế nào đi chăng nữa có thể phát triển SCP hơn nữa trong nguyên liệu thực vật giúp tạo ra cho thế giới những thực phẩm cần thiết. Những nghiên cứu vẫn đang cố gắng tìm ra những vsv thích hợp và tạo điều kiện cho nền sản xuất sản phẩm SCP mà có thể đưa trực tiếp đến con người.

3. Bánh mì:

Mặc dù con người đã biết làm bánh mì cách đây hàng ngàn năm, nhưng vẫn không biết nguồn gốc từ đâu. Trong suốt thời kỳ đồ đá, những bộ lạc du mục có thể làm 1 miếng dày tử hạt dại và nướng nó trên những hòn đá nóng từ lửa trại của họ. Khoảng 10.000 năm trước những bộ lạc du mục đã định cư và bắt đầu trồng trọt lương thực, xung quang eikon và emmer, tổ tiên biết trồng lúa mì. Quang hồ 600BC thuộc Thụy Sỹ những người cư ngụ đã cải tiến công thức nấu ăn trên miếng bánh hạt dại bằng cách đập nát hạt để làn bánh. Ngành khảo cổ học đã chứng minh rằng những nấm men bánh mì đã phát triển ở AiCập khoảng 4000 năm trước. Những người AiCập tin rằng trước hết phảixay lúa mạch thành bột

Những tiến bộ của công nghệ được tiếp tục nâng cao thành những kỷ thuật làm bánh mì, trong đó việc sử dụng bã chứa nấm men trong quá trình ủ như là 1 tác nhân làm men bánh,những bánh men thì phụ thuộc vào nấm men hoang dại và khối bột nhào lần đầu và đến thế kỷ thứ 3 BC, nấm men được sản xuất thương mại hóa ở Ai Cập

Khoảng giữa 700-130BC, những người dân thuộc địa HyLạp hăng hái làm bánh. Họ đã lọc bột để loại bỏ chất bẩn, bánh được hong khô và có thêm mật ong, mè và dịch trái cây, phát minh ra lò bằng đá để nướng bánh. Thế kỷ thứ 2AD thời LaMã, những cái bánh được tạo ra dưới những loại khác nhau và những người LaMã đã giới thiệu bánh của họ trên khắp khu đất mà họ đã chiếm được. Trong suốt nửa đầu thới Trung Niên khoảng TK5-TK10, điều kiện chính trị đã làm cho nền thương mại giữa các nước suy yếu. Những vụ mùa lúa mì sinh trưởng vào mùa nóng thời tiế khô hạn giá trị lương phẩm kém hơn những đất nước thuộc vùng có khí hậu lạnh , ẩm ướt như ở Bắc Âu. Bánh ở Miền Bắc được làm theo lúa, mạch đen, yến mạch, lúa mạch và theo kinh nghiệm truyền thống. Ngày nay những loại bánh mì này vẫn còn truyền lại ở 1 vài vùng của Bắc Âu. những người dân Mỹ làm bánh tại nhà từ bột bắp, đặt chúng trong lò nướng. Lúa mì để làm bánh có giá trị khinhững người di cư Mỹ được di tản về miền Tây đến nơi thoáng đãng có khí hậu thích hợp cho nông trại lúa mì và thành lập tổ chức nhà máy chế biến nghiền hạt. Những băng chuyền có khả năng phân phối hạt, bột và giảm bớt chi phí. Bánh mì được làm với men tự nhiên hoặc men của lần nhào bột sau, cho đến 1868 thì men thương phẩm được đóng gói và bán ra có giá trị ở thị trường.

Vào TK 20, nền công nghiệp và công nghệ phát triển đã tạo ra quy trình tinh chế bột làm cho giá tiêu thụ rẻ hơn. Bột trắng là 1 loại thực phẩm dành cho tầng lớp thượng lưu cũng được thay thế bằng bột lúa mì với giá rẻ hơn, nhiều sản phẩm sản xuất từ bột. Từ trước Tk 20,bột trắng không có nhiều dinh dưỡng khi mà vitamin và khoáng chất bị mất đi trong suốt quá trình tinh chế và điều kiện thiếu vitamin càng trở nên trầm trọng hơn. Bánh mì trắng bị thay thế bằng bánh mì lúa mạch với sư ưu chuộng của quần chúng. Bệnh phù thũng xảy ra là kết quả từ việc thiếu thiamine và bệnh pellagra nguyên nhân do chế độ ăn kiêng không đầy đủ các dưỡng chất vitamin niacin đã làm tăng thảm họa. Chính phủ nhiều nước bao gồm nước Mỹ đã bắt đầu bắt buộc có những nhu cầu dự phòng về vitamin và khoáng chất. Những chương trình này khá thành công, những ca bệnh phù thũng hoặc pellagra bây giờ rất hiếm gặp ở các nước công nghiệp

Vào TK21, những người

tiêu dùng ở Canada và Mỹ bắt đầu quan tâm đến những giá trị khác nhau và những loại bánh có lợi cho sức khỏe hơn. Để đáp ứng lại những nhu cầu này, những siêu thị bắt đầu cho ra nhiều loại hơn không chỉ bánh mì trắng và bánh mì lúa mạch

Bánh mì được làm từ nhiều loại hạt khác nhau và không chuyển hóa chất béo, chúng được sản xuất khi dầu polyunsaturated được tạo thành hydrogenated. Bánh mì được làm từ bột mì hữu cơ cũng được ưu chuộng và những dãy hàng làm sạch lò nướng miễn phí, những loại bánh mì khác bắt đầu mở ra thị trường ở phía bên kia lục địa Bắc Mỹ.

Bánh mì được làm với bột mì, nước, men muối với độ dinh dưỡng cao. Chứa ít chất béo vá 1 số chất dinh dưỡng quan trọng như protein, carbonhydrate,fiber,sắt, Ca hơn hết là vitamin niacin, thiamine, riboflavin chúng là dẫn xuất thứ cấp từ mầm và cám của lúa mì. Cám là thành phần đặc biệt trong khẩu phẩn ăn kiêng, những phần phế liệu của thực vật đu7ọc tin rằng có 1 hình thức khác để tạo ra sản phẩm có lợi cho sức khỏe.

Thường mầm và cám được chuyển hóa trong quá trình làm bột mì giảm bớt giá trị truyền thống của bột. Để bù vào sự tiêu hao chất dinh dưỡng, bánh mì thương mại được sản xuất thêm vào khoáng chất và bổ sung vitamin. Chính phủ nhiều quốc gia bắt buộc những công ty sản xuất thực phẩm liên quan đến sức khỏe phải có những tiêu chuẩn bổ sung dinh dưỡng riêng biệt. Ở Mỹ, thực phẩm và thuốc Administration, yêu cầu bánh mì cần được bổ sung những chất đặt biệt chứa 1 lượng thiamine, riboflavin, niacin, and iron, bột mì ở Mỹ thì luôn được củng cố với việc thêm lượng Ca và P.

Việc làm bánh mì nấm men yêu cầu 5 bước cơ bản: trộn, nhào, sự nổi lên của bột, tạo hình và nướng bánh. Bột thì đu7ọc trộn với men, thành phần lỏng thường là sữa và nước và những thành phụ như muối, đường và cắt ngắn bột. Khi bột trở nên quá dày cho quá trình khuấy thì nó được nhào bởi sự ép nén lặp lại nhiều lần, bọc lại và đảo nó để phát triển và hình thành chất nhão thứ mà làm cho bột nổi lên.

Nhào bột cho lên men đến khi nó nổi gấp 2 lần kích thước hữu cơ. Sau đó nó được đục lỗ

và nhào thêm 1 lần ngắn nữa dể tạo túi khí bên trong khối bột và lặp lại sơ qua để cho men tiếp xúc với những chất đường không tan và sau đó cho b6t5 nổi lên lần nữa. Những loại bột khác của men banh mì có thể cho nổi nhiều lần, góp phần tạo nẹn cấu trúc và thể tích bánh men. Trước khi quá trình bột nổi kết thúc thì bột được tạo hình trong những khuôn truyền thống như hình dài, tròn. Sau khi quá trình nổi kết thúc, bánh mì được đem đi nướng.

Những phương pháp nấu góp phần tạo nên những đặc tính cuối cho bánh men, đặt bột ở nhiệt độ khoảng 600C(1400F) sẽ giết chết những nấm men, ở nhiệt độ cao hơn sẽ làm thay đổi cấu trúc hóa học của khối bột. Hầu hết bánh mì từ bột được nấu bằng lò nướng nhưng có 1 vài loại bánh mì như bánh bao Trung Quốc thì được hấp và những loại khác như bánh rán Native American được chiên bằng dầu.

Những vsv phải đảm bảo 3 chức năng trong quá trình làm:

-Men kết hợp với bột tạo thành hồ bột

-Tạo hương vị và màu sắc

-Điều kiện hồ bột để làm bánh dễ dàng

Bột nở được hoàn thành đầu tiên do việc tạo ra nhiều lỗ nhỏ,rỗng. Ngoài bột men ra thì men bánh còn lại với lớp dày đặt, cứng.

Mặc dù có nhiều vsv và tác nhân lên men được sử dụng, nhưng vẫn có điểm chung nhất là những giống nấm men làm bánh đều dùng Sac.cerevisae, ngoài ra có những vsv khác như E.coli, vk lên men acid lactic và nấm men dại

Sự trao đổi chất của nấm men đòi hỏi nguồn lên men đường hóa như maltose, glucose. Vì quá trình hô hấp của vsv lên men hiếu khí trong bột bánh, tạo ra sản phẩm đầu tiên của lên men maltose là CO2 và H2O sau đó là rượu. Những diều kiện tham gia khác để cấu tạo nấm men đến từ việc nhào, kết hợp với không khí ở trong khối bột và từ enzyme vsv đã làm cấu trúc protein bột bị vỡ và làm cho khối bột có tính đàn hồi. Bên cạnh sản phẩm la CO2, quá trình lên men bánh mì đã làm bay hơi acid hữu cơ khác và rượu tạo hương vị và mùi thơm. Có điều đặt biệt phát triển trong lò nướng bánh mì đã diễn ra 1 cách chậm rãi sau đó men bánh và vk có thể được chuyển sang 1 hương vị đặc trưng phụ thuộc vào hỗn hợp nuôi cấy và công nghệ nướng được sử dụng như hương cay của lúa mạch đen. Nuôi cấy vk a.lactic như Lactobacillus plantarum, Lac. brevis, Lac. bulgaricus, Leuconostoc mesenteroides, and Streptococcus thermophilus.

8 bước1 chung để sản xuất men bánh mì ở qui mô công nghiệp trong các nước trên thế giới:1)hạt, men, nước và tphần khác được phối hợp để hình thành bột men. Bột thì được nhào bởi quá trình ép nén liên tục, đảo và bọc lại để tạo thành gluten trong bột và tạo lỗ khí sau đó khối bột được để yên trong vài giờ cho mấm men mở lỏng túi khí làm khối men nổi lên. 2)sau đó khối bột được 1 máy cắt tự động sẽ phân ra những miếng có kích thước giống nhau và để lại những chất cặn trong chảo bánh men. 3)những khối bột nhỏ cho đi qua chậm ở nhiệt độ và độ ẩm như môi trường được kiểm soát, nơi mà chúng nổi lên lần 2. 4)những khối nhỏ này đi qua không khí nóng thùng đối lưu nơi mà chúng được nướng. 5)trước khi những khối nhỏ được cắt mỏng và được đóng gói chúng phải qua buồng làm lạnh nơi mà không khí đi qua và xung quanh chúng có nhiệt đọ thấp hơn nhiệt độ bên trong chúng. 6)khối bột được tách ra khỏi chảo bánh men và được đưa lên 1băng tải dài qua máy rửa. 7)sau khi làm lạnh thì sẽ cắt mỏng và đóng gói. 8)những khối nhỏ này được chất lên xe tải để giao sản phẩm tươi tới những thị trường bán lẻ.

4. Quá trình lên men

a. Bia và các thức uống khác có cồn

Việc sản xuất các thức uống có cồn lợi dụng đặc tính hữu ích khác nhau của nấm men. Bằng việc lên men các cacbohyrate có trong trái cây hoặc các hạt một cách yếm khí, họ sản xuất là trượu etylic theo công thức sau:

C6H12O6 → 2C2H5OH + 2CO2

i.Bia

Bia, thức uống có cồn được làm từ các hạt ngũ cốc, thường là đại mạch, nhưng còn có thể dùng bắp, gạo, lúa mì và yến mạch. Bia được làm ra bằng cách sửa dụng 1 quá trình gọi là quá trình lên men, trong quá trình này có một loại vi nấm gọi là nấm men sử dụng đường trong hạt, chuyển hoá chúng thành rượu và CO2. Phương trình hoá học này đặc thù sản xuất bia với lượng cồn từ 2 – 6%. Các bằng chứng sớm nhất về việc ủ bia xuất hiện trên các bảng cổ thuộc vùng Sumer và Babylon khoảng 6000 năm trước công nguyên. Các thành phần đầu tiên trong cả bia cổ và các loại bia, rượu bia nâu, bia đen và nhiều loại khác ngày nay là nước, malt (hạt đại mạch), hoa houblong và các giống nấm men đặc biệt. Công đoạn ủ bia bao gồm malt hoá, hồ hoá, thêm hoa houblong vào dịch lên men, ủ lên men và hoàn tất. Để nấm men của quá trình ủ bia chuyển hoá carbohydrat trong hạt thành rượu etylic, đại mạch trước hết phải được làm mềm mầm bên trong để hình thành các hợp chất dinh dưỡng nấm men có thể dùng. Qúa trình này gọi là malt hoá. Các amylase giải phóng ra chuyển hoá tinh bột thành các dextrine và đường mạch nha cùng với enzyme protease đồng hoá các protein. Tinh bột và đường bổ sung khác được thêm vào việc hình thành bia là bắp, gạo, lúa mì, đậu nành, khoai tây và cây lúa miến. Sau đó các mầm được tách rời với các hạt malt còn lại ở dạng khô và dự trữ để chuẩn bị cho việc hồ hoá.

Bước đầu tiên trong quá trình ủ bia, gọi là malt hoá, bao gồm việc ngâm nước vào nước trong vài ngày cho đến khi nó bắt đầu nảy mần hay mọc chồi. Trong suốt quá trình nảy mầm, các enzyme có trong hạt chuyển hoá mạnh thành phần tinh bột trong hạt trong thành 1 loại đường gọi là đường mạch nha. Tại thời điểm này, hạt được gọi là malt. Sau vài ngày, khi phần lớn tinh bột đã chuyển hoá thành đường, malt được làm nóng và để khô. Qua trình này gọi là quá trình nung, dừng không cho malt nảy mầm tiếp nữa. Các phần của malt có thể được rang thêm để cho sự đa dạng hơn nữa về màu sắc và mùi vị tạo ra những loại bia khác nhau.

Sau khi rang, malt khô được chế biến trong máy xay, để làm vỡ vỏ (lớp phủ bên ngoài của hạt). Malt đã loại bỏ vỏ được chuyển sang một vật chứa gọi là nồi cháo, và nước nóng được cho vào. Malt ngâm trong dịch thường từ 1 – 2 giờ. Qúa trình này gọi là hồ hoá, phá vỡ các phân tử đường phức tạp trong hạt và giải phóng chúng ra nước, tạo ra một dịch ngọt gọi là hèm rượu. Nhiệt độ và lượng thời gian dùng để hồ hoá malt ảnh hưởng đến dạng và hương vị của bia thành phẩm.

Bước tiếp theo gọi là quá trình ủ bia, hèm rượu được chuyển sang một bồn ủ lớn và đun khoảng 2 giờ trở lên. Việc đun nóng có tác dụng thanh trùng hèm rượu để tiêu diệt các vi khuẩn có thể gây hỏng cho hèm trong quá trình lên men. Trong giai đoạn này của quá trình ủ, hoa houblong được cho vào hèm cồn để tăng thêm hương vị và vị đắng để cân bằng với vị ngọt của hèm cồn. Các

loại hoa houblong sử dùng và khoảng thời gian chúng được nấu được quyết định bởi loại bia tạo thành. Để sản xuất bia tốt, có vị đắng hơn, hoa houblong được nấu ít nhất là 30 phút và thường là lâu hơn. Việc nấu như vậy làm cho các tinh dầu đắng trong hoa houblong có thể ngấm hoàn toàn vào hèm cồn.

Các thành phần khác cũng có thể được dùng để tác động đến hương vị của bia thành phẩm. Ví dụ, ủ các loại bia có thể sáng nhạt các nhà máy bia thường cho thêm các loại hạt ngũ cốc khác, như bắp và gạo, để đạt được màu sáng mong muốn cho sản phẩm của họ. Nhiều nhà máy bia lớn của Mỹ cho thêm bắp và gạo mà bắp và gạo này trước tiên phải nấu thành dạng gel – giống 1 thể đồng nhất. Điều này mang đến cho bia một màu và thể sáng và vị dịu hơn so với bia được sản xuất chỉ từ đại mạch.

Sau khi ủ, hèm cồn được làm lạnh và sau đó được lọc để loại bỏ các lá hoa houblong và bã. Người ủ bia chuyển hèm rượu vào 1 vật chứa mà nơi đó chúng có thể được lên men. Thùng này có thể là 1 vật chứa sâu và bằng phẳng với phần trên mở hoặc thùng hình trụ cao với một đáy hình nón. Nấm men sau đó được cho vào hoặc đổ vào hèm rượu để bắt đầu quá trình lên men
. Saccharomyces cerevisiae
nổi trên bề mặt của dung dịch khi nó lên men được trong hạt và nhiệt độ ấm phù hợp trong khoảng từ 16 đến 220C (60 – 720F). Saccharomyces uvarum
chìm dưới đáy của dung dịch và lên men tốt nhất ở nhiệt độ lạnh trong khoảng 3 – 100C (38 đến 500F). Qúa trình lên men đầu tiên (lên men chính) kéo dài từ vài ngày đến hai tuần. Khi nấm men đã tiêu thụ hết lượng đường có thể lên men được, hèm cồn trở thành bia.

Bia được chuyển vào 1 thùng chứa kín, gọi là thùng lên men, cho quá trình lên men thứ hai (lên men phụ) hoặc thời kỳ ủ chin, nơi bia trở thành carbonate một cách tự nhiên.

Nhiều nhà máy bia đưa CO2 vào bia khi quá trình ủ chin đã hoàn tất để tạo bọt và chất lượng bọt. Việc ủ chin trải qua từ vài tuần cho đến vài tháng, tuỳ thuộc vào loại bia đang sản xuất.

Sau khi ủ chin, bia có thể xuất hiện một chút vẩn đục do các tế bào nấm men và một số cặn khác còn thừa lơ lửng trong dung dịch. Phương pháp phổ biến nhất loại bỏ các chất bẩn này là lọc, một quá trình mà trong đó bia thành phẩm được bơm, dưới áp suất qua 1 hệ thống lọc thanh trùng mà hệ thống này loại được gần như hoàn toàn các phần tử lơ lửng trong dịch, cho ta một dung dịch trong sạch. Tuy nhiên đồng thời sau khi lọc, một vài nấm men có thể còn sót lại tong bia. Để giết vào các nấm men còn sót lại này, bia phải được thanh trùng Pasteur hoặc đun nóng đến 820C (1800F) sau đó bia được đóng vào chai hoặc lon. Bia tươi, loại được đóng các keg bằng kim loại, thường không phải thanh trùng và phải được giữ lạnh để ngăn cản nó không bị nhiễm. Nhiều nhà sản xuất bia và người uống bia tin rằng bia đã lọc và thanh trùng làm mất đi tính chất và mùi vị cơ bản của bia.

Quá trình ủ bia rất đa dạng nhưng thông thường bao gồm những bước căn bản sau: hạt được ngâm nước trong khi hạt nảy mầm, hạt này được làm khô trong lò và làm vỡ vỏ, malt thu được đun với nước nóng và được nấu với những hạt không phải là malt, dịch cháo được lọc, tạo ra một dịch lỏng gọi là hèm cồn, hèm cồn này được nấu trong nồi ủ bia cùng với hoa houblong, bây giò hèm cồn có vị đắng lên men với sự tham gia của nấm men, dịch được chuyển sang thùng lên men thứ hai, nơi khí CO2 có thể được bơm vào trước kết thúc quá trình và đóng gói.

ii.
Rượu

Rượu vang được coi đồ uống có cồn truyền thống phát sinh từ quá trinh lên men nho, nhưng trên thực tế trái cây ăn quả có thể làm thành rượu. Yếu tố đầu tiên là phải chuẩn bị, nước được ép từ trái cây được sử dụng như mộtcơ chất cho quá trình lên men. Nhìn chung, các loại rượu vang nho hoặc màu trắng hay màu đỏ. Màu sắc đến từ vỏ của nho, màu đỏ cũng như vậy. Màu sắc đến từ vỏ của nho, vì vậy rượu vang trắng được chuẩn bị từ một trong hai màu trắng-skinned nho hoặc từ những trái nho đỏ đã được tẩy màu. Màu đỏ rượu vang đến từ các màu vỏ đỏ hoặc tím. các bước thực hiện làm rượu vang chủ yếu bao gồm phải chuẩn bị (ép), lên men, lưu trữ và lão hóa. Quá trình lên men đúng, phải cho thấy có chứa 12% đến 25% glucose hoặc Fructose như vậy trong nghệ thuật làm rượu vang bắt đầu ở vườn nho. Nho phải được thu hoạch khi lượng đường của chúng đạt 15% đến 25%, tuỳ thuộc vào loại rượu vang để thực hiện. Nho từ các cánh đồng mang theo một hỗn hợp trên bề mặt của chúng một lớp ohấn, có thể phục vụ như là một nguồn yeasts hoang dã để chiếm ưu thế, nhưng nhiều rượu vang nhiễm phải những chủng đặc biệt Sac. cerevisae, nhiều llipsoideus. Để xét đến men và vi khuẩn gây hỏng,rượu phải được chữa trị với lưu huỳnh dioxide hoặc kali metabisunlfite.khi nuôi

phải thường xuyên tạo điều kiện thoáng khí và trộn để thúc đẩy tăng trưởng của những nấm men hiếu khí tự nhiên, nhưng khi mức độ mong muốn của men bia là tốc độ tăng trưởng đã đạt được, quá trình lên men rượu là bắt đầu. Nhiệt độ của thùng lên men trong suốt thời gian lên men phải được kiểm soát để thuận lợi cho sản xuất rượu. Độ dài của quá trình lên men dao động từ 3 đến 5 ngày đối với vang đỏ và các loại rượu vang từ 7 đến 14 ngày đối với loại rượu vang trắng. Ban đầu sản lượng lên men rượu nhìn chung đạt 7% đến 15% do khối lượng, tuỳ thuộc vào loại men bia, nguồn của nước trái cây, nước và điều kiện xung quanh.Lên men nước trái cây ( rượu vang thô) là chắt và chuyển qua cho thùng lớn để lắng xuống và làm trong. Trước gia đoạn cuối cùng của quá trình già hóa, đó là bước thanh trùng pasteur để giết vi sinh vật và lọc để loại bỏ bất kỳ nấm men còn lại

và độ lắng cặn của rượu vang là độ tuổi trong thùng gỗ với khoảng thời gian khác nhau (nhiều tháng đến nhiều năm) sau khi mà nó đóng chai và lưu trữ để thêm già hóa. Trong quá trình già hóa, không có vi khuẩn thay đổi sự tạo hương liệu và mùi vị (hương vị rượu) đặc tính của một rượu vang. Quá trình lên men được thảo luận cho đến nay chỉ có thể đạt được nồng độ

cồn tối đa 17%, vì

ở trên mức độ này ngăn cản các quá trình trao đổi chất của của men bia. Các sản phẩm của quá trình lên men phải được chưng cất để có được nồng độ rượu cao hơn như được tìm thấy trong các mặt hàng rượu. Trong thời gian chưng cất của rượu hơi rượu bay lên nghưng kết tao thành rượu. Các rượu sau đó là cô đặc và thu thập các rượu, nồng độ rượu qua chưng cất được đánh giá bởi nồng độ chuẩn của rượu cất, một đo lường mà thường sử dụng là hai lần nồng độ rượu . Vì vậy, 80 nồng độ chuẩn của rượu cất vodka chứa 40% ethyl rượu.
Mặt hàng rượu chưng cất bắt nguồn thông qua một quy trình tương tự giống như làm rượu vang, thông qua các

cơ chất có thể được bắt đầu rất đa dạng. Ngoài ra để chưng cất mặt hàng rượu có thể chịu sự chi phối đặc biệt như giai đoạn già hóa để cung cấp duy nhất hương vị hay màu sắc. Vodka, đặc biệt là một mặt hàng rượu, thường được làm từ quá trình lên men mía. Các loại whiskeys được bắt nguồn từ lên men hạt nghiền, Rye Whiskey được sản xuất từ rơm ngâm và
rượu uytky ngôtừ ngô ngâm. Brandy thì được chưng cất từ nho, đào, hay mơ.

Mặc dù rượu vang

sử dụng nhiều kỹ thuật khác nhau để sản xuất loại rượu vang với đặc điểm độc đáonhưng có sáu bước cơ bản tham gia vào hầu hết sản xuất rượu. Để làm cho màu đỏ rượu vang, nho được chuyển qua một máy ép cơ khí

(1) để loại bỏ các bã và giữ lại nước trái cây. Các nước trái cây, nước ép tách xác, và vỏ, bây giờ phải gọi là

bã, được chuyển giao cho một thùng lên men(2), nơi mà nó ở đó cho đến 14 ngày trong khi yeasts chuyển đổi từ từ các đường nho thành rượu. Các nước trái cây, bây giờ coi là rượu vang,

đã được tách khỏi vỏ và xác bởi nó đi qua thông qua một máy nén (3). Rượu được bơm vào thùng (4), thường làm bằng cây sồi, nơi mà nó tiếp tục lên men và phát triển trong được biết đến như là một quá trình già hóa. Trong quá trình già hóa, phần cặn lắng xuống để dưới cùng của thùng và là một hình thức gọi là cặn rượu. Người làm rượu có thể tạo rượu từ cặn rượu trong một quá trình được gọi là rửa tách cặn, chuyển rượu đến những thùng đã được làm sạch (5). Cuối cùng, rượu được máy móc đóng chai (6), đóng nút chai, đóng gói và phân phối . Trong sản xuất các loại rượu vang trắng nho đang bị tách khỏi vỏ và xác trước khi lên men. Những trái nho được chuyển qua một máy nghiền,ép(A), và phải là ngay một máy nén(B)dùng

áp lực để tách rời nước trái cây từ vỏ và xác. Các bước còn lại, lên men(C), lão hóa (D), rừa tách cặn (E), và đóng chai(F), là tương tự với những người sản xuất rượu vang đỏ.

b. Lên men lactic

i. Quá trình lên men các sản phẩm cây trồng

Dưa cải là sản phẩm lên men của cải bắp. Cải bắp rửa sạch,
làm héo
, cắt thành miếng nhỏ, mặn, và đóng gói chặt chẽ vào một thùng lên men lớn. Đậy vật nặng lên khối cải bắp và ép cho nó ra nước. Quá trình lên men được thực hiện bởi các vi sinh vật tự nhiên có sẵn trên cải bắp, hoặc bằng cách thêm vào các tế bào. Tác nhân chính của quá trình lên men là Leuconostoc mesenteroides, mà tăng nhanh trong nước muối và sản xuất Lactic acid. Tiếp theo là Lactobacillus plantarum,tiếp tục tăng lượng axit cao khoảng 2% (pH 3.5) vào cuối quá trình lên men. Các axit cao, nội dung hạn chế sự phát triển của vi khuẩn gây hỏng.

Lên men dưa chuột ngâm giấm sảy ra chủ yếu trong muối và các loại thì là khác nhau. Muối ngâm được chuẩn bị bằng cách rửa dưa chuột còn non, đặt chúng trong thùng nước muối, và cho phép chúng để lên men trong 1 đến 2 tuần. Nước muối có bị nhiễm với Pediococus cerevisae và Lactobacillus plantarum để tránh các sản phẩm không có ích do vi khhuẩn tự nhiên trong thực vật,và để đạt được thêm sản phẩm phù hợp. Lên men thì là ngâm giấm được chuẩn bị công phu hơn, với việc bổ sung thì là, các loại gia vị tỏi, hành và giấm.

Sơ đồ:
Sơ đồ quá trình lên men dưa chuột ngâm giấm
dưa chuột tươi

r
ửa
phủ 5% muối(thêm thì là hoặc gia vị)

Che thùng lên men để tránh bay hơi và để loại trừ không khí

Lên men trong 1 hoặc 2 tuần (Tổng số acid 0,6 - 1,0% như acid Lactic, pH 3,6 - 3,4)
Sơ đồ quá trình lên men cải bắp:

Cải bắp tươi(hoặc những lá rau xanh khác)

Cắt tỉa và làm sạch

bỏ lõi

Cắt thành miếng nhỏ(2 - 5 mm chiều rộng)

Thêm vào muối (khoảng 2,25% trọng lượng) và rải đều

Thêm vài thùng lên men
muối và miếng cải bắp cắt nhỏ có thể được trộn lẫn trong quá trình lên men

đậy thùng lên men và sử dụng một con dấu để ngăn chặn lối vào của không khí và loại trừ khí CO2 được tạo ra trong quá trình lên men



lên men để

tạo vị chua
Để giữ chất lượng tối ưu của vị chua được cao (pH dưới 4), nhưng dưa cải có thể được tiêu thụ sớm hơn nếu muốn


ii. Ứng dụng trong các sản phẩm sữa

·Yogurt

Sữa chua (da-ua), được lên men, sản phẩm sữa bán lỏng, được sử dụng rộng rãi như là một thực phẩm tốt cho sức khỏe. Nó được chuẩn bị từ tươi toàn bộ hoặc sữa gầy, đun sôi và được cô đặc do bay hơi. Sự lên men được tạo ra do sự bổ sung các tế bào của vi khuẩn, thường Lactobacillus bulgaricusStreptococcus thermophilus, và đôi khi Lactobacillus acidophilus.

Thành phần: 1 quart sữa (bất kỳ loại nào), 1 / 4 đến 1 / 2 chén sữa không béo(không bắt buộc), 2 muỗng hiện có sữa chua sống với những tế bào sống (hoặc bạn có thể sử dụng vi khuẩn đông-khô).

Bước 1. Thanh trùng sữa. Mặc dù sữa của bạn đã đượcthanh trùng pasteur nhưng nó

vẫn còn chứa các vi khuẩn. Rót một quart sữa vào một nồi
hoặc một đầu của một nồi chưng cất. Sử dụng một cái thì kim loại để khuấy . Đun nóng sữa cho đến khi nó gần sôi. Bạn sẽ thấy những bong bóng nhỏ

xung quanh những mép và

hơi bắt đầu tăng. Vẫn tiếp tục kiểm tra nhiệt độ: Cần khoảng 180-185F (82-850C). Một nhiệt kế nên để đo vào lúc cần thiết. Đun nóng chậm và khuấy thường xuyên để ngăn ngừa sự cháy sém.

Bước2. Làm nguội sữa để tạo yogurt. Cho phép làm nguội sữa ở nhiệt độ phòng hoặc trong tủ lạnh. Khuấy thường xuyên để kiểm tra nhiệt độ chính xác hơn. Không được tiếp tục cho đến khi nhiệt độ sữa dưới

120F (490C), và không nên để nó dưới 90F (320C). 105-110 (41-43) là tối ưu.

Bước 3.Bắt đầu ủ ấm. Hãy bắt đầu để cho da ua

ở nhiệt độ phòng trong khi bạn đang chờ đợi cho sữa nguội. Điều này sẽ ngăn không cho nó quá lạnh khi bạn thêm nó vào sữa . Thêm vào nonfat khô sữa, nếu muốn. Thêm về ¼ chén đến 1 / 2 chén sữa bột không béo tại thời điểm này sẽ tăng

thành phần dinh dưỡng

của da-ua.
Yogurt cũng sẽ dễ đông đặc hơn. Điều này đặc biệt hữu ích nếu bạn sử dụng sữa không béo.

Bước 4. Bắt đầu thêm vào. Thêm vào 2 muỗng

sưa chua, hoặc thêm các vi khuẩn đông-khô.Đặt hỗn hợp trong hũ chứa. Rót sữa vào trong một hoặc nhiều hũ chứa sạch sẽ.Đậy chặt mỗi hũ một nắp hoặc đậy bằng miếng nhựa .

Bước 5:Ủ yauot.Giữ ấmyaout để kích thích sự phát triển của vi khuẩn. Nhiệt độ ở giữa 105F và 122F (410C và 490C) là lý tưởng. Một cái lò với ngọn đèn là một trong những lựa chọn; Sử dụng nhiệt kế của bạn để kiểm tra trên nhiệt độ. Đợi cho đến khi da ua dày,ổn định.Sưa chua vẫn được giữ trong suốt quá trình này. Nó có thể ủ từ 8-14 giờ.

Bước 7:giữ daua trong tủ lạnh. Đặt sưa chua trong tủ lạnh của bạn cho một vài giờ trước khi phục vụ. Nó sẽ vẫn giữ tiếp tục trong 1-2 tuần. Nếu bạn định sử dụng

nó như hũ khởi đầu, sử dụng nó trong vòng 5-7 ngày, vì

các vi khuẩn vẫn còn

phát triển mạnh. Hất lỏng còn lại giống như nước sau khi sữa chua đơng đặc ,là một lớp mỏng chất lỏng màu vàng

. Bạn có thể rót nó ra hay khuấy nó trong sưa chua trước khi ăn uống của bạn.

Bước 8. Thêm vào hương vị tùy chọn. Thử nghiệm cho đến khi bạn phát triển một hương vị của bạn có hương vị ngon. 9. Sưa chua sử dụng từ đợt đầu cho các đợt kế tiếp.

·Phomat

Từ thời tiền sử, con người đã biết tạo ra và sử dụng phomat. Phomat là nơi tập trung khá nhiều chất dinh dưỡng, mà đa số giá trị dinh dưỡng này được chứa trong sữa, như là protein, vitamin và các chất khoáng, cũng như là một phần rất ít chất béo và cholesterol, những cơ chất mà có thể tạo nên một số vấn đề về sức khỏe khi sử dụng quá mức. Hàm lượng chất béo có trong phomat có thể thay đổi phụ thuộc vào lượng sữa được sử dụng. Phomat được tạo ra với sữa nguyên chất hoặc sữa có kem, có lượng chất béo cao nhất, cholesterol và calories. Phomat tạo ra từ sữa không kem thì có hàm lượng chất béo thấp nhất. Vì vậy, hàm lượng protein và canxi có chứa trong loại này rất cao, sử dụng phomat trong điều độ là một dự kết hợp quan trọng của một bữa ăn cân bằng. Nó là nguồn protein đặc biệt tốt dành cho trẻ em, đòi hỏi một lượng khá lớn protein để phát triển cơ thể hơn người trưởng thành. Đa số người ăn chay, họ không ăn thịt, dựa vào phomat là nguồn cung cấp protein cho bữa ăn của họ. Đầu tiên, protein trong sữa được chuyển hóa thành khối đông đặc gọi là sữa đông. Tiếp theo, khối sữa đông được tách từ chất lỏng có màu đục, gọi là dịch sữa, và ép khuôn hoặc nén thành hình dạng. Tiếp theo đó, khối sữa đã có hình dạng này sẽ được làm chín theo nhiều cách khác nhau. Khối sữa đông được đóng khuôn khi một enzyme gọi là renin được khuấy vào trong sữa. Renin tác động đến

casein, một trong những protein có trong sữa, làm đông đặc và gắn kết lại với nhau hay còn gọi là đông tụ. Renin được tím thấy trong men dịch vị, một cơ chất được chiết từ dạ dày bê, cừu, dê và từ một số loại thực vật nào đó. Renin chỉ đông tụ nếu sữa có tính acid yếu, như là khi nó bị chua. Vì thế, chờ cho sữa bị chua, người làm phomat nhanh chóng làm ấm sữa và cho vào đó chủng vi sinh vật chuyên dùng để chuyển hóa đường trong sữa thành acid lactic, tạo nên môi trường acid yếu cần thiết cho casein đông tụ. Lúc casein kết lại với nhau, nó giữ những phân tử chất béo nhỏ và một số phân tử khác có trong dịch sữa ở bên trong khối đông tụ. Bước tiếp theo của qui trình làm phomat là khối đông tụ sẽ được tách ra khỏi dịch. Khối đông này được cắt thành những khoanh nhỏ để cho khô hết phần dịch sữa còn lại bên trong. Một số loại phomat khác có hàm lượng hơi ẩm không ổn định, được xác định bằng lượng dịch sữa cho phép còn lại trong khối đông tụ. Sản xuất phomat độ ẩm cao, như là phomat làm từ sữa đã gạn kem, người làm phomat chỉ cần cắt khối đông tụ và để ráo dịch sữa con lại trước khi thêm gia vị và đóng gói để tiêu thụ. Với phomat có độ ẩm thấp, cấn làm đông đặc và tách dịch sữa ra nhiều hơn. Những phương pháp dùng để tách dịch sữa từ khối đông tụ có vai trò xác định tính chất cuối cùng của phomat. Một số loại phomat, như phomat Thụy sĩ được đun nóng và khuấy mạnh trong quá trình nấu rối đưa xuống để tách dịch sữa tạo nên điểm đặc trưng cho phomat. Để tạo nên phomai có chắc hơn, sữa đông tụ được đặt lên trên hết, trong một quá trình gọi là cheddaring, nó dựa vào khối lượng của những lớp được ép ra vẫn còn nhiều dịch sữa từ phomat. Vào giai đoạn này, người làm phomat có thể nhào trộn khối đông tụ- nhào trộn, vặn và kéo chúng bằng tay- như là tác động lên sợi dây, nhiều kết cấu đàn hồi được tìm thấy trong một loại phomat của Ý hoặc provolone. Khối sữa đông được tạo hình bằng tay hoặc được nén thành những hình dáng và kích thước khác nhau. Khi khối sữa đông gần như là phomat thì được sát muối bởi sự kích thích muối ngay khi thành khối sữa đông với sự cọ sát muối hoặc dung dịch muối, gọi là nước muối, trên bề mặt của khối sữa đông. Muối hút ẩm từ phomat, nhưng quan trọng hơn thì nó hoạt động như là một chất bảo quản và làm giảm cái bước cuối trong qui trình làm phomat-qiu trình làm chín. Trong quá trình làm chín, vi sinh vật chuyển hóa chậm cấu trúc của khối sữa đông, tạo nên phomat vớ hương vị, kết cấu và mùi hương khác nhau. Những loại vi sinh vật sử dụng, điều kiện nhiệt độ, độ ẩm của môi trường làm chín, khoảng thời gian của quá trình chín, tất cả đều góp phần vào những đặc điểm cuối của phomat. Trong một vài phomat, vi sinh vật được cho vào để tạo nên môi trường acid yếu cần thiết để tiếp tục hình thành khối sữa đông cho quá trình làm chín phomat tốt hơn. Trong phomat Thụy Sỹ, ví dụ, vi sinh vật sẽ tạo ra bọt khí trong quá trình làm chín, tạo thành những chỗ trũng hoặc là những cái lổ. Trong những trường hợp khác, vi sinh vật được cho vào để tạo hình khối sữa đông. Ví dụ, mốc xanh lá gọi là penicillum roqueforti được sử dụng để làm chín phomat như là Roquefort và Gorgonzola. Điều đặc biệt, mốc tạo nên màu xanh gân lá trên phomat và một hương vị rõ nét một cấu trúc nhiều kem. Một số loại phomat khác như là Brei và Camembert, được làm chín bởi vi sinh vật tạo bọt trên mặt ngoài của phomat. Vi sinh vật hoạt động khá chậm trên con đường chuyển hóa bên trong khối phomat, tạo độ dẽo, hăng bên trong và để lại một dạng bột, ăn được màu trắng ở lớp trên bên ngoài. Quá trình chín thường lấy nơi mà ở đó, điều kiện môi trường được kiểm soát cẩn thận. Điều kiện ở đây phải được tạo thành tương tự như điều kiện tự nhiên của vi sinh vật làm chín, như là làm lạnh, hang đá vôi ẩm ướt của miền nam nước Pháp, là nơi bắt đầu của phomat Roquefort. Không khí ẩm ướt sẽ cản trở việc làm khô phomat cũng như là quá trình làm chín. Nhiệt độ được giữ lạnh không chỉ để thúc đẩy hoạt động của vi sinh vật làm chín mà còn cản trở sự phát triển của vi sinh vật gây hại có thể làm hư phomat. Sau một thời gian, phomat được làm chín, hoặc đã chín góp phần vào việc tạo nên những đặc điểm cuối cùng của phomat. Nói chung, phomat tạo nên hương vị đặc trưng, cấu trúc phước tạp, màu sắc lạ. Công nghệ sản xuất phomat phát triển nhanh chóng ở giữa thế kỉ 19. Thực phẩm an toàn tăng lên khi nhà vi sinh vật người Pháp Louis Pasteur chứng minh rằng vi sinh vật gây hại có mặt trong sữa sẽ chết nếu ta đun nóng ở nhiệt độ 62oC trong 30 phút, hoặc lọc trong 15 giây, và chu trình này gọi là thanh trùng Pasture. Nhiều loại phomat hiện nay được làm bằng sữa đã được thanh trùng, làm giảm khả năng vi sinh vật gây hại sẽ làm nhiễm bẩn và làm hư quá trình làm chín.

·

_________________
Mr.Hoàng Xuân Vĩnh Phú
Food Technology 42B
The Faculty of Agricultural Engineering and Post-harvest Technology
Hue University of Agriculture and Forestry
Y!M : haclong0901

GMail : vinhphucntp



Đầu trang
   
 
 Tiêu đề bài viết: Re: Ứng dụng VSV trong CNTP !!!
Gửi bàiĐã gửi: Thứ 7 24/07/10 20:35 
Kỹ sư
Kỹ sư
Hình đại diện của thành viên

Ngày tham gia: Chủ nhật 07/09/08 19:17
Bài viết: 212
Đến từ: thừa thiên huế


Bơ, sữa béo đông cứng,đặc biệt là sữa bò, sử dụng chình như một dạng thức ăn.


-
Lắc trong một cái vại thay cho máy chế biền thức ăn, lắc mỗi phút 1 lần, cho vào một hòn bi để tăng vận tốc


-
Cấu trúc của kem trước khi khuấy. cho vào một thìa nhỏ (50ml) sữa chua mua ở chợ, kem chua, bơ sữa… và để khoảng 12 giờ ở nhiệt độ phòng để cô đặc và lên men trước khi đánh sữa. Nó có một hương vị đặc trưng, hơi chua và không có dư vị. Nếu có bọt, có mùi men hoặc có khí thà loại bỏ ngay.


-
Sửa dụng một vài công cụ làm bơ như chun, cánh khuấy, khuôn để kết thúc việc làm bơ.


-
Sữa và kem: được lấy từ bò. Bơ có thể được làm từ sữa trâu, dê, cừu cái, bê…Kem được trích từ sữa, có thể là sữa lỏng hoặc tách từ sữa cái trong sản xuất bơ. Kem có thể ngọt, không bị ôi, không bị oxi hóa, không có hương vị. Kem được khử trùng pasteur ở nhiệt độ 950C để bất hoạt enzyme và những vi sinh vật khác.


-
Giai đoạn chín: môi trường được cho vào để chuyển hóa đường sữa thành acid lactid và những hương vị hoặc những đặc tính mong muốn cho khối bơ. Đó là những dạng phổ biến của bơ Châu Âu.


-
Chín (ngưng kết):

kem được giữ ở nhiệt độ lạnh để kết tinh những tinh thể bơ béo, bảo đảm theo qui tắc thực hiện và cấu trúc của bơ.


-
Khuấy: kem được khuấy mạnh, cuối cùng được chuyển thành những hột nhỏ, phát triển lớn hơn và đông tụ lại. Cuối cùng, là hai trạng thái phụ: một khối bán rắn của bơ, và dịch lỏng ở phía ngoài đó là bơ sữa.


-
Để ráo và rửa: như thế, kem được tách thành 2 phần: khối bơ và dịch bơ sữa. Trong quá trình khuấy truyền thống, cái máy nhưng khi khối gần như chắc chắn. Cùng lúc đó, sữa bơ được tháo ra. Các nhà sản xuất bơ tiếp tục làm ráo bơ sữa. Sau khi làm ráo, bơ tiếp tục định hình các phân tử chất béo và loại bỏ những phân tử nước còn sót lại. Thường dùng để rửa bơ sau khi đã đánh bơ để tách bơ sữa còn sót lại và dung dịch bơ nhưng cách này hiện không còn được sử dụng. Qúa trình rửa này chắc chắn rằng tất cả sữa bơ đã được loại ra khỏi bơ. Mặt khác, bơ sẽ được giữ không bị ôi.


-
Ướp muối và tạo hình: muối được sử dụng để tạo hương vị và hạn sử dụng. Nó hoạt động như là một chất bảo quản. Hơn thế nữa, bơ được làm cho bền chặt hơn.


-

Đóng gói và bảo quản: bơ được cắt thành những khoanh nhỏ sau đó, để trong giấy sáp và bảo quản ở nơi lạnh. Ở nhiệt độ lạnh, phần béo của bơ kết tinh và bơ trở nên rắn chắc hơn. Bơ dẻo, được tạo ra bằng cách cho không khí hoặc khí nito vào bơ mềm, việc này làm cho mặt bơ căng ra dễ dàng ở nhiệt độ lạnh.


-
Vi sinh vật thường từ vi khuẩn hình que của

Lactobacillale, Streptococcaceae…….


·
Giấm:

Giấm có độ pH từ 2.4-3.4. Acid acetic, tên thông thường của acid ethanoic, CH3COOH, một dung dịch không màu, có mùi hăng và vị chua. Acid acetic là một hỗn hợp cân bằng với nước và với nhiều chất hữu cơ hòa tan.

Acid acetic có thể được tạo ra bởi sự hoạt động của không khí trong dung dịch cồn trong sự có mặt của một giống vi sinh vật, như là Bacterium acetic. Dung dịch loãng (4-8%) được tạo ra từ rượu, cider, gọi là giấm. Acid acetic đậm đặc được tạo ra từ quá trình tổng hợp. như là phản ứng giữa methyl và CO với sự có mặt của chất xúc tác, hoặc là sự oxy hóa của acetaldehyde. Giấm tự nhiên được tạo thành khi cồn trong cây thực vật bị oxy hóa thành acid acetic, là nguyên nhân gây ra mùi hăng và vị chua. Một cách làm giấm tương tự là trộn khoảng 4% acid acetic và trộn đường vào trong nước, chất pha chế này có thể không có sự có mặt của este, cồn, glycerin và dầu bay hơi mà giấm tự nhiên có. Trên thực tế, giấm được sản xuất bằng 2 bước. bước thứ nhất giống như là làm rượu hoặc bia, lúc này dịch trái cây lên men thành rượu bằng chủng Saccharomyces. Bước thứ 2, bao gồm quá trình lên men hiếu khí bởi vi khuẩn acid acetid như là Acetobacter và Gluconobacter. Những vi sinh vật này, oxi hóa ethanol qua 2 bước như sau:

C2H5OH + ½ O2 → CH3CHO + H2O

Ethanol


Acetaldehyde

CH3CHO + ½ O2 → CH3COOH

Acetaldehyde

Acetic acid


d. Thạch dừa

Thạch dừa một lớp cellulose màu trắng với chất màu vàng mịn được hình bởi Acetobacter aceti phân loài Xylinum, trên bề mặt của đường có rất nhều trong nước dừa/dừa cọ/dịch chiết thực vật/nước ép trái cây hoặc các phế liệu giàu đường. Thạch dừa thường được dùng như là món tráng miệng. Thạch dừa còn được sử dụng như là 1 thành phần trong các sản phẩm thực phẩm như kem, cooktail trái cây,… Ban đầu, nước dừa được lọc chiết và đem trộn với đường và acid glacial acetic theo tỷ lệ nhất định. Đun sôi hỗn hợp trên trong 10 phút và để nguội. Bổ sung dịch nuôi cấy và trải hỗn hợp này vào bình thuỷ tinh hoặc bình nhựa miệng rộng, bọc bên ngoài bình bằng một lớp giấy hoặc một lớp vải mỏng để tránh bụi bẩn. Sau đó để bình này tránh sự xáo trộn trong từ hai đến ba tuần. Sau chu kỳ này, một lớp thạch màu trắng phát triển dày trên bề mặt được thu hoạch, được rửa hoàn toàn để loại bỏ tất cả acid và được cắt thành những khối vuông. Sau đó, chúng được đem đi ngâm dung dịch đường để tạo thêm hương vị, đun lại lần nữa và đem đóng gói trong các bình thuỷ tinh hoặc các túi dự trữ, thanh trùng và đem bán.

Phương pháp trên có 2 dạng, sử dụng nước dừa già và dùng nước dừa tươi.


·
Dạng 1 (nước dừa)

Nguyên liệu thô: 1 kg. dừa tươi đã nghiền, 325 ml or 1¼ ly glacial acetic acid, 600 g or 3 ly đường tinh luyện, 500 ml or 2 ly nước dừa, 12 l nước máy, 2 l giống thạch dừa.

Qui trình: 1. trộn dừa nạo với nước, lọc qua vải mùng, 2. Thêm các thành phần còn lại và trộn hỗn hợp, 3. Đổ hỗn hợp trên vào các chậu hoặc bình lên men đã khử trùng sạch sẽ (sâu 2 inches). Để riêng trước khi sử dụng 3 – 5 ngày. 4. Lên men từ 12 – 14 ngày, 5. Thu hoạch. Rửa. 6. Để nấu nó thành món ăn tráng miệng: - cắt thạch dừa thành những khối vuông hoặc những cỡ mong muốn. – Nấu trong nước mà các nước này được thay đổi thường xuyên cho đến khi mùi hay vị của acid bị loại bỏ hoàn toàn. – Nấu với đường theo tỷ lệ 1:1. – Nếu muốn có thể mẫu dứa hoặc nangka như là chất tạo hương.


·
Dạng 2 (nước máy)

Qui trình: 1. trộn dừa nạo với nước máy, lọc qua vải mùng, 2. Thêm các thành phần còn lại và trộn hỗn hợp, 3. Khuấy để đường tan hết, 4. Rót vào chậu hay khay nhựa lên men đã rửa sạch và khử trùng. Bọc lại bằng giấy sạch. 5. Lên men trong 8 - 10 ngày, 6. Thu hoạch, loại bỏ bọt váng, rửa và cắt thành các khối vuông hay theo kích thước mong muốn. 7. Nấu trong nước mà các nước này được thay đổi thường xuyên cho đến khi mùi hay vị của acid bị loại bỏ hoàn toàn. 8.Nấu với đường theo tỷ lệ 1:1 (1 kg đường với 1kg thạch dừa hoặc 3/4 kg đường với 1 kg thạch dừa). Nấu cho đến khi khối thạch dừa trở nên trong suốt.
5. Thuỷ phân protein

a. Nước tương:

Nước tương là một loại dịch chiết màu nâu đen từ hỗn hợp lên men của đậu nành và bột gạo đã rang. Nước tương chứa 7% protein đáp ứng được các yêu cầu của the Food and Drug Administration (FDA). Hàm lượng protein và acid lactic của nước tương có thể so sánh là tốt hơn so với những mặt hàng kinh tế được biết đến của địa phương.

Nguyên liệu: đậu nành, đường nâu, dung dịch muối 20-22%, benzoate natri như là chất bảo quản, Monosodium glutamate (MSG), Vi khuẩn (Lactobacillus delbrueckii), Nấm men (Hansenula subpellicullosa), Mật rỉ đường, bột, nước, mốc (Aspergillus oryzae).

Qui trình:


1.
Tiền xử lý hạt đậu nành: ngâm đậu trong nước để qua đêm, sau đó rửa sạch và để ráo. Đậu đã ngâm được hầm với nước trong một giờ ở 15 psi. Đậu nành được cho để nguội.


2.
Cấy mốc: Đậu đã nguội được cấy nấm men sau khi đã trải chúng lên khay hoặc “bistay”. Ủ trong 24 giờ ở nhiệt độ phòng bằng cách che đậy bằng vải mùng. Nó cũng được dùng với nước luộc đậu. Đậu được phủ với bột mì đã rang và được cấy tiếp tục với mốc và vi khuẩn giống. Phối trộn hoàn toàn và được ủ ở 30 – 400C trong 24 giờ. Hỗn hợp hình thành được chuyển vào bể lên men và trộn với dung dịch muối 20 – 22%. Các thùng lên men này được phủ bằng các tấm nhựa dày. Quá trình lên men hoàn tất sau tháng.


3.
Cải thiện sản phẩm: hỗn hợp pha trộn được lọc gạn với cao lanh qua một đêm. Hỗn hợp dịch lên men được lọc và việc ủ được thanh trùng Pasteur ở 80 – 850C trong 30 phút. Đường caramen được bổ sung vào để tăng thêm hương vị, màu sắc và tính sền sệt của nước tương. Natri benzoate được bổ sung vào như một chất bảo quản. Sản phẩm được đóng chai.

b. Chao:

Tofu (Nhật Bản) hay Sofu (Trung Quốc) là một loại phô mai – được xem như là một sản phẩm được tạo thành bằng việc lên men của đậu nành với Mucor. Đậu nành được ngâm, ép thành bột và bị đông lại bởi việc bổ sung các muối Mg và Ca. Các khối động tụ đã nén ép được đặt lên các khay để ở nhiệt độ 140C và ủ trong một tháng cùng lúc vào thời điểm đó các nấm mốc phát triển.

c. Nước mắm

Những cái khe hoặc lỗ của thùng, ngoại trừ những lỗ dẫn thiết yếu ở phía dưới, thì đều phải được hàn kín bởi một hỗn hợp dầu cá, nhựa cây, mùn cưa hoặc những nút tròn. Các thùng này sẽ được để cho khô ráo trong thời gian ít nhất là một tuần.

Tiếp theo công việc thực sự mới bắt đầu. Trước tiên là phải rửa hỗn hợp các loại cá để chúng không bị nhiễm bụi bẩn khó chịu, cá phải bao gồm đầu và các cơ quan, nơi giàu iot và các cơ chất khác có lợi cho tuyến giáp. Việc nghiền cá giúp cho việc thuỷ phân phân tử protein trong các dễ dàng hơn. Xếp cá vào các thùng lên men cùng việc khuấy trộng. bổ sung 1 lượng muối thích hợp và trộn đều kiềm chế sự phát triển của các vi sinh vật trong suốt quá trình lên men. Cá cơm được trộn với muối theo tỷ lệ 7:3, nghĩa là trong mỗi thùng 10 tấn thì có 7 tấn cá cơm và 3 tấn muối. Tỷ lệ này đảm bảo mùi vị cho nước mắm. Các enzyme có sẵn ban đầu trong vi sinh vật của động thực vật để củng cố thêm cho các enzyme nội bào có mặt trong cá. Cá cơm sau đó được chuyển ngay từ các thuyền đánh cá sang các thùng gỗ nơi chúng được xếp thành từng lớp. Lớp trên cùng được bao phủ bởi các vỉ tre với những hòn đá được đặt ở trên để nén ép cá và dìm chúng trong dung dịch mà dịch này được rỉ ra từ hỗn hợp phối trộn.

Việc sử dụng các thùng gỗ cột bằng dây thừng là bắt buộc để cho nước mắm tốt với sức khoẻ, có mùi và vị tự nhiên, và cá bắt buộc phải tươi; cá chết sẽ tạo ra một mùi kinh khủng mà mùi này có thể làm hỏng nước mắm. Khuấy trộn hỗn hợp. Điều chỉnh pH phù hợp với từng loại enzyme sử dụng. Các thùng lên men được bịt kín và để ít nhất là 6 tháng để hỗn hợp có thể lên men.

Dịch đầu tiên chảy ra được biết như là nước mắm sống (nước mắm tươi). Nước mắm sống đục được rót trở lại vào thùng lên men.

Nước dịch tiếp theo được chảy một cách nhỏ giọt ra khỏi thùng lên men được gọi là nước mắm nhĩ. Dung dịch màu vàng đậm có hàm lượng protein trung bình khoảng 36% và được coi là có chất lượng tốt nhất.

Các thợ lặn sử dụng nước mắm nhĩ để giữ ấm và bảo đảm không bị lạnh. Sau khi thu được nước mắm nhĩ, người ta cho them muối vào thùng lên làm nước mắm loại 2.

_________________
Mr.Hoàng Xuân Vĩnh Phú
Food Technology 42B
The Faculty of Agricultural Engineering and Post-harvest Technology
Hue University of Agriculture and Forestry
Y!M : haclong0901

GMail : vinhphucntp



Đầu trang
   
 
Hiển thị những bài viết cách đây:  Sắp xếp theo  
Tạo chủ đề mới Gửi bài trả lời  [ 2 bài viết ] 

Thời gian được tính theo giờ UTC + 8:45 Giờ


Ai đang trực tuyến?

Đang xem chuyên mục này: Không có thành viên nào đang trực tuyến0 khách


Bạn không thể tạo chủ đề mới trong chuyên mục này.
Bạn không thể trả lời bài viết trong chuyên mục này.
Bạn không thể sửa những bài viết của mình trong chuyên mục này.
Bạn không thể xoá những bài viết của mình trong chuyên mục này.
Bạn không thể gửi tập tin đính kèm trong chuyên mục này.

Tìm kiếm với từ khoá:
Chuyển đến:  
Diễn Đàn Sinh Viên Trường Đại Học Nông Lâm Huế
Địa Chỉ : 102 Phùng Hưng - TP Huế - Điện Thoại : 054.3522535 - Fax : 054.3524923
Gửi Email đến người quản trị diễn đàn

Trung tâm sim so dep gia re, Địa chỉ mua sim so dep gia re Dang Tin Mien Phi, truyen kiem hiep,
dat nen binh duong, dat nen binh duong gia re, dat nen kdc rach bap gia re, dat nen my phuoc 4 gia re